Phần thứ nhất


CỰU CHIẾN BINH VÀ HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM


I. CỰU CHIẾN BINH
1. Khái niệm Cựu chiến binh
Cựu chiến binh Việt Nam là những người đã chiến đấu, trưởng thành trong các lực lượng vũ trang nhân dân do Đảng thành lập, tổ chức và lãnh đạo; được rèn luyện qua các cuộc kháng chiến oanh liệt, có những cống hiến rất to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng; có kinh nghiệm chiến đấu trong cách mạng và xây dựng đất nước.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn vinh, ghi nhận và đánh giá cao sự hy sinh, cống hiến to lớn của Cựu chiến binh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cựu chiến binh Việt Nam đã trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, kháng chiến cứu nước lâu dài, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cựu chiến binh Việt Nam bao gồm:
- Thế hệ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (khi tham gia Đội Tự vệ đỏ, Nam Kỳ khởi nghĩa, Du kích Bắc Sơn, Du kích Ba Tơ, Giải phóng quân, Cứu quốc quân);
- Thế hệ tham gia kháng chiến chống Pháp;
- Thế hệ tham gia kháng chiến chống Mỹ;
- Thế hệ tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tổ quốc ở phía Bắc và phía Tây Nam;
- Thế hệ tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Cựu chiến binh là người đã từng tham gia quân đội, lực lượng vũ trang trong một cuộc chiến tranh”.
Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 quy định:
Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, bao gồm:
1. Cán bộ, chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng Tám năm 1945;
2. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế;
3. Cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc;
4. Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc;
5. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Như vậy, Cựu chiến binh dù được định nghĩa rộng hay hẹp thì cũng đều là những người đã từng tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ.
Khi nghiên cứu khái niệm Cựu chiến binh cần chú ý để tránh nhầm lẫn với 02 khái niệm: Cựu binhCựu quân nhân.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Cựu binh là người đã vào quân đội tương đối lâu, lính cũ”.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005 thì có thể hiểu Cựu quân nhân là quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự (phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành) nhưng không phải là Cựu chiến binh.
2. Vị trí, vai trò của Cựu chiến binh
Sau hơn nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đến nay cả nước ta có trên 4 triệu Cựu chiến binh. Nhiều Cựu chiến binh đã từng tham gia các đội tự vệ Đỏ trong phong trào Xô Viết Nghệ -Tĩnh năm 1930-1931, tham gia Đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, du kích Ba Tơ… Nhiều đồng chí tham gia chiến đấu từ những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, đã cống hiến gần trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã được rèn luyện thử thách và tích lũy nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng. Số đông trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, nhiều đồng chí còn trẻ, khoẻ được xuất ngũ về địa phương hoặc chuyển ngành sang các cơ quan Nhà nước tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hàng triệu cựu chiến binh (CCB) Việt Nam đang có mặt trên khắp mọi miền của đất nước là một lực lượng đông đảo đã được thử thách, tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, trực tiếp chiến đấu quyết liệt với kẻ thù xâm lược, được Đảng và quân đội giáo dục; có trình độ chính trị nhất định, trung thành với Đảng, với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giàu lòng yêu nước, thương dân, sống tình nghĩa thuỷ chung với đồng đội, chân thành, giản dị, lành mạnh, có ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng đạo lý, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực, bất công xã hội, đoàn kết gắn bó với nhân dân, được dân mến, dân tin.
Từ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình đấu tranh cách mạng của mình, trải qua các thời kỳ sóng gió của cách mạng, những giai đoạn đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, CCB ý thức sâu sắc rằng với sức mạnh đoàn kết của toàn dân, với truyền thống tự lực tự cường của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kiên định và kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, nhất định đất nước ta sẽ vượt qua được khó khăn, thách thức hiện tại, giữ vững được thành quả cách mạng, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Với niềm tin sắt đá đó và với tấm lòng suốt đời vì nước, vì dân, Cựu chiến binh luôn ý thức rõ trách nhiệm của mình và luôn sẵn sàng hăng hái tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh, các phong trào, các cuộc vận động cách mạng của nhân dân; tích cực, tận tuỵ trong nhiệm vụ được phân công, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang trong các lực lượng cách mạng, anh chị em CCB trở lại hậu phương, về với gia đình, hoặc chuyển sang hoạt động trong các đơn vị, cơ quan chính quyền hay các ngành kinh tế, văn hoá, khoa học. Dù ở đâu, giữ bất cứ cương vị nào, làm bất cứ việc gì, tuyệt đại bộ phận CCB vẫn phát huy truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ”. Đó là tiềm năng, là thế mạnh của CCB. Phát huy tốt những khả năng đó sẽ tạo thành một lực lượng chính trị đáng kể.
Cựu chiến binh là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng, có kinh nghiệm chiến đấu trong cách mạng và xây dựng đất nước, được Đảng, nhà nước và nhân dân tôn vinh và đánh giá cao sự hy sinh, cống hiến to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn cách mạng mới Cựu chiến binh giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ chế độ XHCN, giúp nhau cải thiện đời sống, góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ.
II. HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM
1. Bối cảnh ra đời
Hơn 50 năm liên tục trong thế kỷ XX đất nước ta đã trải qua thời kỳ đấu tranh cách mạng và kháng chiến cứu nước lâu dài, gian khổ, ác liệt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã cùng toàn Đảng, toàn dân kiên cường, anh dũng chiến đấu, chiến thắng, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cách mạng Tháng Tám vĩ đại thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á ra đời; tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống xâm lược trường kỳ gian khổ kết thúc với những chiến công oanh liệt "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu", chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nước cuốn triều dâng ...quét sạch quân xâm lược khỏi đất nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thủy chung với bạn bè, làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.
Trong những năm kháng chiến hào hùng của dân tộc, theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, lớp lớp thanh niên yêu nước – công nhân, nông dân, học sinh, trí thức và các tầng lớp nhân dân của hầu hết 54 dân tộc anh em trong cả nước, thế hệ nối tiếp thế hệ, lớp “cha đi trước, lớp con theo sau”, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, cứu nước, cứu nhà.
Trải qua các thời kỳ chiến tranh cứu nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng, nhiều đồng chí mang thương tích, bệnh tật và hàng triệu đồng chí sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang nhân dân đã lần lượt phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu về với cuộc sống gia đình; một bộ phận chuyển ngành sang công tác ở các cơ quan Đảng, Nhà nước, các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội. Về với cuộc sống đời thường, trên lĩnh vực công tác mới, anh chị em Cựu Chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, đem ý chí và nhiệt tình cách mạng cùng những kinh nghiệm, kiến thức đã được tích luỹ từ những năm tháng sống trong quân ngũ để góp phần xây dựng quê hương đất nước.
Trong giai đoạn cách mạng mới, để tập hợp, đoàn kết, phát huy sáng tạo của Cựu Chiến binh đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá VI) đã quyết định cho thành lập Hội CCB Việt Nam (Nghị quyết ngày 06/12/1989). Tiếp đó, ngày 02-02-1990, phiên họp Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) do đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì đã chỉ định Ban chấp hành lâm thời Hội CCB Việt Nam gồm 31 đồng chí do Thượng tướng Song Hào làm Chủ tịch. Ban Bí thư uỷ quyền cho Ban chấp hành lâm thời của Hội làm việc với các tỉnh uỷ, thành uỷ triển khai thực hiện Nghị quyết, hình thành tổ chức Hội ở địa phương. Ngày 24-02-1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) cấp giấy phép số 528/NC thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (do Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký). Ngày 14-4-1990 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Quyết định số 51/QĐ-MTTQ công nhận Hội CCB Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (do Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ ký).
Sự ra đời của Hội Cựu chiến binh Việt Nam đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần của CCB Việt Nam, phù hợp với nguyện vọng thiết tha chính đáng của anh chị em CCB.Phát biểu tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành lâm thời Hội CCB Việt Nam đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười khẳng định: “…Đảng và Nhà nước ta quyết định thành lập Hội CCB Việt Nam là một chủ trương đúng đắn, vừa đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay, vừa đáp ứng nguyện vọng thiết tha và chính đáng của CCB. Với sự ra đời của Hội CCB Việt Nam, nước ta có thêm một đoàn thể nhân dân, bao gồm anh chị em CCB đã được tôi luyện trong chiến tranh cách mạng, những chiến sĩ suốt đời gắn bó với Đảng, hết lòng phục vụ nhân dân, đã từng xả thân cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm tròn nghĩa vụ quốc tế”. Trong thư gửi Đại hội đại biểu CCB thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất (29-4-1992), đồng chí Nguyễn Văn Linh, cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng, viết: “… Trong tình hình thế giới và trong nước phức tạp hiện nay, trong khi bọn đế quốc và bọn phản động người Việt ở ngoại quốc hay đang ẩn náu ở trong nước đang dùng mọi thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt để âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, lật đổ Đảng ta hòng thực hiện âm mưu thâm độc diễn biến hoà bình, trong tình hình đó vai trò của Hội CCB là rất quan trọng…”.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đại diện ý chí, nguyện vọng của Cựu chiến binh, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 3, Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005).
Điều 11 của Pháp lệnh cựu chiến binh năm 2005 quy định nhiệm vụ của Hội Cựu chiến binh Việt Nam là:
- Tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tệ nạn xã hội; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.
- Tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; kiến nghị với cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến Cựu chiến binh, Hội Cựu chiến binh.
- Tập hợp, đoàn kết, động viên Cựu chiến binh rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ hiểu biết đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân; tập hợp quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tham gia tổ chức câu lạc bộ, Ban liên lạc Cựu quân nhân, các phong trào cách mạng ở cơ sở.
- Tổ chức chăm lo, giúp đỡ Cựu chiến binh nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế gia đình, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; tổ chức các hoạt động tình nghĩa để Cựu chiến binh tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Cựu chiến binh; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn, trợ giúp pháp lý cho Cựu chiến binh.
- Tiến hành các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
- Phối hợp với Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan quân sự giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường cho thế hệ trẻ.
3. Quá trình hình thành và phát triển của Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Ngày 06-12-1989, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) quyết định thành lập Hội CCB Việt Nam. Chưa đầy 2 tháng sau, ngày 02-02-1990 Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Hội do Ban Bí thư chỉ định đã khẩn trương triển khai Nghị quyết, hướng dẫn tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động công tác Hội trong cả nước. Quá trình xây dựng và hoạt động, được sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự giúp đỡ của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể và cơ quan quốc phòng, an ninh các cấp, được sự ủng hộ của nhân dân, Hội đã nhanh chóng xây dựng về tổ chức, kết nạp gần 70 vạn hội viên, hình thành xong hệ thống tổ chức Hội 4 cấp và tiến hành xong Đại hội ở ba cấp từ cơ sở xã, phường đến quận, huyện, tỉnh và thành phố. Hội đã làm tốt vai trò tham mưu cho Đảng và chính quyền, làm nòng cốt vận động, tập hợp Cựu chiến binh tham gia có hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, được Đảng bộ, chính quyền các cấp và nhân dân tin cậy, ủng hộ.
Song song với việc xây dựng Hội về tổ chức, phát triển hội viên, Ban chấp hành các cấp Hội đã quán triệt các Nghị quyết của Đảng, vận dụng thực hiện 6 nhiệm vụ của Hội được ghi trong Điều lệ dự thảo, gắn kết với nhiệm vụ chính trị của địa phương làm cho hoạt động của Hội ngày càng có chất lượng và đạt kết quả cao hơn.
Để thực hiện tốt công tác tư tưởng và tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ của Hội, ngay từ tháng 9 năm 1990 Hội phát hành tờ tin “Thông báo nội bộ” (tiền thân của tờ thông tin CCB hiện nay) lưu hành đến Ban chấp hành Hội CCB cấp tỉnh, thành và tháng 01 năm 1991, Báo CCB Việt Nam ra số đầu tiên.
Nhiệm vụ của Hội được triển khai trong giai đoạn lâm thời được thể hiện trên các nội dung sau:
- Hội đã động viên đông đảo cán bộ, hội viên tham gia các đợt sinh hoạt chính trị lớn, tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc. Cán bộ, hội viên tích cực tham gia, nghiên cứu, thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội VII của Đảng và Đại hội Đảng bộ các cấp; tham gia vào dự thảo Hiến pháp năm 1992 và bầu cử Quốc hội khoá 9 với ý thức trách nhiệm cao. Đông đảo CCB đã phát huy trí tuệ, chân thành góp ý kiến với Đảng từ những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc đến những vấn đề cụ thể trong đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cách mạng, trong công tác xây dựng Đảng và củng cố, tăng cường sức mạnh của Nhà nước. Các cấp Hội thường xuyên đóng góp ý kiến với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương về các chủ trương, nhiệm vụ, các mặt công tác ở cơ sở; kịp thời phát hiện và đấu tranh phê phán các quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phủ nhận thắng lợi và thành tựu của Đảng và nhân dân ta qua các thời kỳ cách mạng, những khuynh hướng muốn đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch kích động chia rẽ dân tộc, chia rẽ nội bộ Đảng ta, gây mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng… kiên quyết bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.
Vốn là “Bộ đội Cụ Hồ”, vừa là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, khi trở về đời thường đã phát huy trình độ hiểu biết và sự gương mẫu của mình trở thành lực lượng tuyên truyền, thuyết phục vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, các nhiệm vụ của địa phương. Đồng thời Hội phản ánh kịp thời những suy nghĩ, vướng mắc, những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân và kiến nghị với Đảng, chính quyền các biện pháp giải quyết, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Hội cũng tích cực tham gia đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong xã hội và trong bộ máy Nhà nước, phát hiện những hiện tượng tham nhũng, ức hiếp quần chúng, đấu tranh với các hiện tượng bao che, không công bằng, thiếu nghiêm minh trong xử lý các vụ tham nhũng, góp phần củng cố lòng tin của dân đối với Đảng và cơ quan Nhà nước, được cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương tin cậy, nhân dân đồng tình ủng hộ.
- Các cấp Hội và hội viên đặc biệt quan tâm công tác quốc phòng và an ninh, tích cực hoạt động góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng của đất nước, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, ổn định tình hình chính trị ở địa phương. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Hội đã ký thông tư liên tịch với Tổng cục chính trị - Bộ Quốc phòng về các nội dung trên. Các cấp Hội tích cực thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, góp nhiều ý kiến với cấp uỷ Đảng và chính quyền về xây dựng kế hoạch khu vực phòng thủ, phòng chống bạo loạn, tham gia các cuộc diễn tập quân sự ở địa phương; tham gia xây dựng về mặt chính trị, tư tưởng, huấn luyện quân sự, góp phần nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Để ổn định tình hình chính trị - xã hội ở địa phương, Hội tích cực tham gia có hiệu quả các vụ tranh chấp ruộng đất ở nông thôn, lấn đất tranh nhà ở đô thị sau giải phóng, vỡ nợ của các quỹ tín dụng…, kịp thời cùng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể bạn giải quyết ổn thoả, hợp tình hợp lý, ngăn chặn tình trạng mất ổn định ở các địa phương.
- Hội chủ động phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, với các trường học, đơn vị quân đội và các đoàn thể nhân dân, tham gia góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Thực hiện ý kiến của Ban Bí thư Trung ương Đảng số 07/TB-TW ngày 04/11/1991 “Đối tượng vận động của Hội không chỉ là CCB, Hội cần đặc biệt coi trọng giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống dựng nước và giữ nước cho thế hệ trẻ”, Hội đã xác định tham gia giáo dục thế hệ trẻ là một nhiệm vụ chính trị quan trọng và anh chị em CCB có đủ khả năng, điều kiện để thực hiện. Ban chấp hành các cấp Hội đã mở các hội nghị liên tịch với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đặt kế hoạch tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho thanh niên địa phương, tham gia giúp đỡ các chi đoàn thanh niên, nhận đỡ đầu các trường học để thực hiện nhiệm vụ này. Hội còn quan tâm và tham gia giáo dục số thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về luôn luôn giữ vững và phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục số thanh niên sắp đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự sẵn sàng tham gia quân đội, tiếp bước cha anh hăng hái đi làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
- Hội có nhiều cố gắng chăm lo cuộc sống tinh thần, tình cảm và vật chất của hội viên, tích cực giúp đỡ nhau khi kinh tế khó khăn, ốm đau, hoạn nạn, tạo sự gắn bó giữa hội viên đối với Hội. Sau những năm phục vụ trong quân đội, khi trở về địa phương, gia đình, anh chị em CCB có nhu cầu rất lớn về tinh thần, tình cảm, thông tin và đời sống vật chất. Thấu hiểu những nhu cầu chính đáng ấy, nhiều nơi hội viên có phong trào tương trợ lẫn nhau khi gia đình hội viên gặp khó khăn, đau ốm, thiên tai, mất mùa.v..v Nhiều nơi, Hội chú trọng vận động giúp nhau làm kinh tế gia đình, xây dựng vườn cây, ao cá, chăn nuôi gia súc gia cầm, vỡ đất hoang, nhận khoán đồi rừng, phủ xanh đồi trọc, làm dịch vụ… góp phần giải quyết công ăn việc làm, từng bước khắc phục khó khăn, ổn định đời sống của hội viên và CCB.
Đối với những CCB sống cô đơn, khi gặp ốm đau hoạn nạn, tổ chức Hội cử hội viên thay nhau chăm sóc đồng chí, đồng đội của mình. Khi có hội viên qua đời, Hội tổ chức phúng viếng, tang lễ chu đáo, tiễn đưa đồng đội về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong hoàn cảnh Hội và hội viên còn nghèo, nguồn tài chính còn quá ít, lại chưa có chính sách ưu đãi đối với CCB, nhưng với những tấm lòng tình nghĩa sâu đậm với đồng chí, đồng đội đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong đông đảo CCB và trong nhân dân.
Trong điều kiện các phương tiện thông tin đại chúng chưa phát triển, các cấp Hội có nhiều cố gắng tranh thủ các nguồn thông tin của Đảng, Nhà nước, quân đội và của địa phương, bằng nhiều biện pháp phổ biến cho hội viên, góp phần định hướng tư tưởng, nhận thức, nâng cao trình độ mọi mặt cho anh chị em CCB.
- Hội phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, cơ quan quân sự địa phương và các đoàn thể bạn thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, góp phần củng cố quan hệ giữa Đảng và nhân dân, động viên lực lượng tại ngũ yên tâm phục vụ quân đội. Các cấp Hội xác định việc tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, tìm kiếm và quy tập hài cốt đồng đội, vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ là nhiệm vụ chính trị và tình cảm sâu sắc… Nhiều nơi, Hội đã tổ chức đỡ đầu, chăm sóc con em liệt sĩ, tạo điều kiện cho các cháu được học hành, giúp đỡ thiết thực các gia đình thương binh, liệt sĩ khi gặp khó khăn, kiến nghị với chính quyền và cơ quan chức năng tiếp tục giải quyết những tồn đọng sau chiến tranh, đề đạt với Nhà nước ban hành các chính sách mới, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các gia đình chính sách và CCB. Trong gần 3 năm đầu thành lập, cán bộ và hội viên đã tìm kiếm, cất bốc hàng ngàn mộ liệt sĩ trên khắp các chiến trường, thể hiện tinh thần trách nhiệm, tình nghĩa sâu đậm với đồng đội đã hy sinh, với các gia đình liệt sĩ.
- Thực hiện Chỉ thị 23/CT ngày 22/4/1990 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về hoạt động của Hội CCB Việt Nam “… Hội CCB Việt Nam có quan hệ hữu nghị với Hội CCB các nước xã hội chủ nghĩa và tổ chức CCB tiến bộ ở các nước để đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hoà bình, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc”, Hội xác định công tác đối ngoại nhân dân là một nhiệm vụ của Hội, đã giới thiệu và tạo điều kiện để tổ chức CCB và các cơ quan thông tin, báo chí các nước hiểu rõ mục đích, nội dung hoạt động và tổ chức của Hội CCB Việt Nam; trao đổi kinh nghiệm và đặt mối quan hệ bước đầu với một số tổ chức CCB quốc tế (Hội CCB Liên Xô và Liên đoàn CCB Inđônêxia). Đặc biệt, sau khi liên hệ với một số tổ chức CCB quốc tế và được Ban Bí thư đồng ý, Hội tiến hành các bước xây dựng “Làng Hoà Bình”, tiền thân Làng Hữu Nghị ngày nay để nuôi dưỡng, chữa trị cho CCB và con CCB bị nhiễm chất độc điôxin trong chiến tranh.
Từ khi có quyết định thành lập đến Đại hội toàn quốc Hội CCB lần thứ nhất và đi vào hoạt động chính thức chưa được 3 năm, thời gian chưa dài, nhiều vấn đề còn rất mới mẻ. Qúa trình xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động của Hội trong giai đoạn xây dựng để từng bước định hình, định hướng theo những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khoá VI) và các chỉ thị, hướng dẫn của Ban Bí thư về công tác và hoạt động của Hội CCB Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động lâm thời, Hội có nhiều cố gắng xây dựng, phát triển tổ chức và hoạt động thiết thực, có hiệu quả, làm tốt công tác tham mưu cho Đảng xây dựng tổ chức Hội và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động các thế hệ CCB hoàn thành các nhiệm vụ Đảng giao cho. Bằng những hoạt động thực tế, Hội đã tự khẳng định vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệp cách mạng, như Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) xác định: “Hội CCB Việt Nam là một đoàn thể nhân dân, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, nhất là trong tình hình hiện nay. Hội là tổ chức đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước”.
Nhìn lại 20 năm xây dựng và trưởng thành của Hội Cựu chiến binh Việt Nam qua các kỳ đại hội, thấy rằng:
- Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức vào cuối tháng 11 năm 1992 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VII của Đảng. Từ sau Đại hội VII, tình hình chính trị thế giới có những mặt phức tạp mới tác động vào nước ta. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, kích động đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập và tăng cường hoạt động hòng lật đổ chế độ ta. Sự nghiệp cách mạng nước ta một lần nữa trải qua những thử thách gay go. Trong nước ta, khủng khoảng kinh tế, xã hội vẫn chưa chấm dứt, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trật tự, kỷ cương còn lỏng lẻo, tiêu cực và tham nhũng còn nhiều.
Căn cứ mục tiêu của chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ tổng quát của 5 năm 1991-1995 là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay. Trong đó có mục tiêu cụ thể là tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, đổi mới tổ chức và cán bộ với phương châm chỉ đạo: Tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, động viên được lực lượng của mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững đoàn kết trong Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.
Xuất phát từ tính chất, nhiệm vụ của Hội, Đại hội I đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1992-1997 là:
“Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, nắm vững những quan điểm cơ bản của Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân cùng các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước… để định hướng cho việc xây dựng, củng cố tổ chức và hoạt động của Hội. Trên cơ sở xây dựng Hội vững mạnh về mọi mặt, đoàn kết các thế hệ CCB trong cả nước, phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhân dân, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, chính quyền; vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực về chính trị, kinh tế, xã hội; chăm lo đời sống tinh thần, tình cảm, vật chất và lợi ích chính đáng của hội viên, tham gia giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng, truyền thống chiến đấu, tinh thần yêu nước, góp phần củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện các chính sách hậu phương quân đội, thương binh, liệt sĩ; tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; mở rộng quan hệ hữu nghị với các cá nhân và tổ chức CCB các nước, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Đại hội I đã thông qua Điều lệ chính thức của Hội CCB Việt Nam.
Qua 5 năm thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Đại hội toàn quốc lần thứ nhất đề ra, toàn Hội đạt được kết quả tương đối toàn diện: Tiếp tục phát triển Hội cả về tổ chức và hội viên, tính đến tháng 9 năm 1997 đã có 1.350.000 hội viên, sinh hoạt trong 10.242 tổ chức cơ sở xã, phường, thị trấn (đến tháng 12/1997) đã phát triển được 435 cơ sở Hội ở cơ quan trường học, doanh nghiệp Nhà nước. Động viên hội viên giữ vững và phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội đúng hướng và có hiệu quả; góp phần giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội, góp phần đoàn kết toàn dân xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; cải thiện, nâng cao một bước cuộc sống vật chất và tinh thần, đáp ứng từng bước tâm tư, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của CCB.
Để đạt được kết quả trên, trong nhiệm kỳ này Hội đã phát động phong trào thi đua “xây dựng Hội cơ sở vững mạnh, hội viên gương mẫu, gia đình hội viên tiến bộ”. Phong trào thi đua của Hội đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy mọi hoạt động của tổ chức Hội và hội viên.
Với những thành tích trên, Hội tự khẳng định mình là đoàn thể chính trị - xã hội, thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được Đảng, chính quyền và Mặt trận đánh giá cao, được nhân dân tín nhiệm. Thường vụ Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) nhận xét: “Hội CCB Việt Nam phát huy tốt vai trò nòng cốt trong Mặt trận Tổ quốc, là chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ II được tiến hành vào trung tuần tháng 12 năm 1997, vào thời điểm toàn dân đang thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, đất nước ta trải qua 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế và lực mới cả ở bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào thời kỳ phát triển mới. Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được tạo ra; quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết, khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm. Đó là thời cơ lớn. Nhưng 4 nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tệ tham nhũng và tệ quan liêu; âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đã được Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1-1994) nêu lên cho đến nay vẫn là những thách thức lớn, không thể xem nhẹ nguy cơ nào.
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: giai đoạn từ 1996 đến 2000 là bước phát triển rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết đề cập đến nhiệm vụ tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, theo đó các đoàn thể cần tập hợp rộng rãi các hội viên, đoàn viên dưới nhiều hình thức tổ chức đa dạng, thực hiện tốt chức năng giáo dục vận động quần chúng thực hiện thắng lợi những mục tiêu cụ thể; chăm lo thiết thực lợi ích của hội viên, đoàn viên, đại diện cho tầng lớp mình tham gia công việc Nhà nước; hướng mạnh về cơ sở, bồi dưỡng rèn luyện cán bộ, khắc phục bệnh quan liêu, hành chính trong hoạt động của các đoàn thể.
Để quán triệt Nghị quyết của Đảng trong công tác xây dựng và hoạt động của Hội, Đại hội nhiệm kỳ II Hội CCB toàn quốc đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung như sau:
“Xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy tốt hơn nữa vai trò “nòng cốt trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” xứng đáng là “chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”. Phát triển hội viên và tổ chức Hội, đoàn kết rộng với CCB, tập hợp cựu quân nhân ở cơ sở; động viên hội viên và CCB, hướng dẫn cựu quân nhân phát huy truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy tiềm năng đa dạng của CCB và cựu quân nhân, cùng các đoàn thể củng cố ổn định chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội, đoàn kết toàn dân xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; góp sức xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời phát huy ý thức tự lực, tự cường, tình đồng chí, đồng đội giúp nhau nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của CCB và cựu quân nhân”.
Trong 5 năm (1997-2002) thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB lần thứ II đề ra, toàn Hội đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Công tác xây dựng Hội có bước phát triển mới, vững chắc, số lượng hội viên tăng cao, tổ chức Hội được mở rộng, đội ngũ cán bộ Hội được kiện toàn cả số lượng và chất lượng, trình độ chính trị tư tưởng của hội viên được nâng cao. Hội tham gia có hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, góp phần ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở; tích cực đấu tranh chống các âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch; chống các quan điểm sai trái với đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Hội tổ chức tốt phong trào CCB giúp nhau làm kinh tế, xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, đời sống vật chất và tinh thần của hội viên được nâng lên rõ rệt. Cán bộ, hội viên tích cực tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng ở địa phương; phối hợp ngày càng chặt chẽ với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho thế hệ trẻ; tham gia bước đầu có hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân.
Đến hết nhiệm kỳ II, Hội CCB đã trải qua hơn 10 năm xây dựng và hoạt động, Ban chấp hành Trung ương Hội đã xây dựng được 3 Nghị quyết chuyên đề về hoạt động của Hội:
- Phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch, vững mạnh, góp phần bảo vệ và xây dựng Đảng, chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở (1998).
- Chăm lo đời sống hội viên và tổ chức, động viên CCB tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (1999).
- Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ (2000).
Đây là những văn kiện mang tính tổng kết, chỉ đạo quá trình xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ của Hội. Cũng trong nhiệm kỳ này, lần đầu tiên tại Đại hội lần thứ IX của Đảng, công tác CCB Việt Nam được đưa vào văn kiện chính thức của Đại hội và tháng 01-2002 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết chuyên đề số 09-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”. Nghị quyết đánh giá sâu sắc về tình hình CCB và hoạt động của Hội CCB Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, nêu rõ quan điểm của Đảng về vai trò, vị thế của Hội trong hệ thống chính trị, về CCB và công tác CCB; xác định nhiệm vụ vận động CCB là một trong những công tác vận động quần chúng quan trọng của Đảng, là trách nhiệm của các cấp ủy và tổ chức Đảng, của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Nghị quyết đề ra phương hướng đồng bộ, giải pháp cụ thể nhằm đưa Hội tiến lên bước phát triển mới trong giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên các điểm mới về đối tượng vận động của Hội, chức năng nhiệm vụ của Hội, về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và yêu cầu Hội vừa làm tham mưu giúp cấp uỷ Đảng, vừa làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động hội viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của Hội.
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị là dấu mốc quan trọng về sự trưởng thành và phát triển của Hội, là định hướng tư tưởng và xác định hành động của CCB trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác tham mưu của Hội cho Đảng chỉ đạo công tác CCB.
Với những kết quả trên và trải qua 13 năm xây dựng, hoạt động, Hội đã được Bộ Chính trị đánh giá: “CCB Việt Nam là lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành của Đảng”, “Hội CCB Việt Nam xứng đáng là một đoàn thể chính trị - xã hội, là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, nhất là ở cơ sở”.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ III được tổ chức vào cuối tháng 12 năm 2002,trong tình hình Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cụ thể hoá con đường đi lên CNXH ở nước ta, đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000. Qúa trình đưa đất nước tiến lên, chúng ta có thời cơ, thuận lợi mới đồng thời có nguy cơ thách thức mới. Tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất phức tạp, tác động nhiều mặt đến nước ta nhất là lĩnh vực tư tưởng, an ninh, kinh tế.
Với CCB Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: “Đối với CCB, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN; giúp nhau cải thiện đời sống, góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ”. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về công tác CCB đã định hướng cho hoạt động của Hội trong giai đoạn cách mạng mới. Tháng 10 năm 2005, Nhà nước công bố Pháp lệnh CCB, đây là văn bản pháp luật thể chế hoá Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về Cựu chiến binh Việt Nam nhằm tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức Hội, quy định quyền lợi, nghĩa vụ của CCB, chính sách của Nhà nước đối với CCB, cán bộ làm công tác Hội CCB, tổ chức và hoạt động của Hội CCB…, từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo CCB trong cả nước, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của CCB và Hội CCB Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập kinh tế thế giới.
Về đội ngũ CCB, các thế hệ CCB đang có những biến đổi quan trọng: lực lượng CCB đã tham gia các cuộc chiến tranh vẫn còn đông nhưng sẽ giảm dần về số lượng; lực lượng sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và một số hạ sĩ quan, chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sẽ bổ sung vào hàng ngũ CCB, hình thành nhiều thế hệ khác nhau.
Từ tình hình trên và hoạt động thực tiễn của Hội thời gian qua, Hội xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2003-2007 là: “Tăng cường đoàn kết, vận động các thế hệ CCB thành một lực lượng cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng, gương mẫu chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Xây dựng Hội CCB trong sạch, vững mạnh, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng chức năng tham mưu cho cấp uỷ Đảng về công tác vận động CCB, làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết vận động các thế hệ CCB và phối hợp với các đoàn thể, các ngành chức năng, vận động cựu quân nhân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, luôn luôn xứng đáng là một đoàn thể chính trị - xã hội đại diện ý chí, quyền lợi của CCB, chỗ dựa tin cậy của Đảng, chính quyền, thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ III toàn Hội đã đoàn kết, sáng tạo, hoạt động đạt nhiều thành tích quan trọng, thiết thực. Nổi bật trên các mặt chủ yếu: thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Đảng giao cho Hội, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu mà Đại hội III của Hội đã đề ra; vận động, tập hợp được đa số CCB và cựu quân nhân; xây dựng tổ chức đạt cả số lượng và chất lượng.
Trong nhiệm kỳ này, để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới”, Hội đã tiến hành tổng kết việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Hội của khoá II; trên cơ sở những vấn đề được rút ra từ tổng kết, kết hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới của Hội để xây dựng thành 5 Nghị quyết chuyên đề làm cơ sở lý luận và hướng dẫn hoạt động công tác Hội giai đoạn tới:
- Xây dựng Hội CCB Việt Nam trong sạch vững mạnh và nhiệm vụ công tác cán bộ của Hội trong giai đoạn cách mạng mới (2004).
- Hội CCB Việt Nam tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN (2004).
- Chăm lo đời sống hội viên và tổ chức, động viên CCB tham gia phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương (được phát triển trên cơ sở Nghị quyết chuyên đề II năm 1999).
- Nhiệm vụ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ (được phát triển trên cơ sở Nghị quyết chuyên đề III năm 2000).
- Tăng cường đoàn kết, phát huy tiềm năng các thế hệ CCB tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ CNH, HĐH (2003).
Hội đã tham mưu cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh CCB, tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh CCB.
Sau khi Nghị định Chính phủ được ban hành, Hội phối hợp cùng các Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chín, Bộ Quốc phòng soạn thảo các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ.
Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 09 Bộ Chính trị, Pháp lệnh CCB của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và những Nghị quyết chuyên đề của Hội, công tác xây dựng và hoạt động của Hội ở nhiệm kỳ III đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao. Trải qua 15 năm hoạt động, Hội CCB được Đảng, Nhà nước và nhiều đồng chí lãnh đạo đánh giá cao về vai trò, vị trí chính trị - xã hội và hoạt động có hiệu quả của Hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ IV được tổ chức vào cuối tháng 12 năm 2007. Trước đó, vào tháng 8-2007, để động viên cán bộ, hội viên, ghi nhận thành tích của Hội trong thời gian qua và định hướng hoạt động của Hội trong giai đoạn tới, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tặng Hội CCB Việt Nam bức trướng với nội dung: Phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trung thành - đoàn kết – gương mẫu - đổi mới.
Đại hội toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ tư diễn ra trong lúc toàn Đảng, toàn dân triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng “… phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”. Đảng phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn dân. Nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới, tạo ra cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra thách thức gay gắt. Các sự kiện trên đều tác động đến nhận thức, tư tưởng, đời sống CCB và đến công tác xây dựng, hoạt động của Hội.
Đại hội X của Đảng đã xác định nhiệm vụ đối với CCB “phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ XHCN; động viên CCB giúp nhau cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo; góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh”.
Nội dung trên của Nghị quyết Đại hội X của Đảng và nội dung trong bức trướng của Ban chấp hành Trung ương Đảng tặng Hội CCB Việt Nam là định hướng, là yêu cầu đối với hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ IV và những năm tiếp theo của thời kỳ mới.
Về tình hình đội ngũ CCB, những năm tới CCB hoạt động trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và CCB tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp đã cao tuổi; CCB tham gia chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn đông đảo, chiếm đa số trong lực lượng của Hội. Hàng ngũ Hội CCB được bổ sung thêm số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và một số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Tổ chức Hội cũng có những yêu cầu phát triển mới trong các loại hình kinh tế như doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân…
Từ thực tiễn hoạt động của Hội những năm qua và tình hình nhiệm vụ của đất nước, của Hội, phương hướng nhiệm vụ và những chủ trương công tác của Hội trong nhiệm kỳ IV như sau: “Đoàn kết vận động các thế hệ CCB, phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, trung thành, đoàn kết, gương mẫu, đổi mới; phát huy tiềm năng đa dạng của CCB, tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ XHCN, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X. Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động, xây dựng Hội thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đoàn thể chính trị - xã hội, chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền”.
Để hoàn thành nhiệm vụ trên, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội CCB Việt Nam lần thứ IV đề ra chỉ tiêu chính trong nhiệm kỳ là:
- Phát triển được 80-90% đối tượng đủ điều kiện kết nạp vào Hội.
­- 100% cán bộ được bồi dưỡng, tập huấn các Nghị quyết của Đảng và công tác Hội.
- 100% hội viên tham gia học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phấn đấu hàng năm 90% trở lên cơ sở Hội đạt trong sạch, vững mạnh; 95% trở lên hội viên gương mẫu, 80% trở lên gia đình CCB đạt “gia đình văn hoá”.
- Tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn Hội dưới 3%, cơ bản xoá xong nhà dột nát cho hội viên.

* Đánh giá về 20 năm xây dựng và trưởng thành của Hội Cựu chiến binh Việt Nam (1989-2009)
Đồng chí Nông Đức Mạnh thay mặt lãnh đạo Đảng, nhà nước khẳng định “Từ khi ra đời đến nay, Hội đã không ngừng lớn mạnh, hoạt động tích cực, đúng hướng và có hiệu quả thiết thực … thành tích của Hội Cựu chiến binh Việt Nam rất to lớn và đáng trân trọng. Đảng và nhà nước đánh giá cao hoạt động và những đóng của Hội Cựu chiến binh Việt Nam đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc … Các đồng chí xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ Đảng chính quyền và nhân dân”.