X
Kết quả từ 1 tới 9 trên 9

Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

  1. Chuyên viên
    Bắt đầu vào 26-10-2009, 10:17 PM
    Đã viết: 114 bài thảo luận
    rongchien is offline
    13508 lượt xem
    #1

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    sau đây tôi xin copy 1 số bài về Quân Đội nhân dân Việt Nam để chúng ta cùng biết về những thông tin đã được chính thức cho công khai rất nhiều năm qua để chúng ta có thể tin tưởng và hiểu về 1 phần nào đó của 1 quân đội anh hùng của chúng ta .

    phần 1 : tăng thiết giáp


    Vào năm 1952 một vài cán bộ Việt Minh được cử qua Trung Quốc để học về binh chủng tăng-thiết giáp, tuy nhiên họ không được dùng để xây dựng lực lượng thiết giáp mà được giao nhiệm nghiên cứu chiến thuật chống lại xe tăng pháp là chủ yếu vì Việt Minh lúc đó chưa có điều kiện thành lập binh chủng thiết giáp Sau trận Điện Biên Phủ Việt Minh thu được ít nhất là 2 xe tăng M-24 còn dùng được. Tuy vậy chúng không dùng để chiến đấu mà dùng làm công tác tuyên truyền.

    QDNĐVN được trang bị lại và phát triển vượt bậc vào những năm 1955-1960. Để tăng cường khả năng bảo vệ miền Bắc XHCN, ta nhận thấy rằng việc xây dựng lực lượng thiết giáp là rất cần thiết. Vào năm 1956 một đại đội thiết giáp được thành lập, được trang bị xe thiết giáp M-8 và M-3 của Mỹ (có lẽ xe chiến lợi phẩm của Pháp). Lực lượng thiết giáp này được biên chế thành những trung đội bảo vệ sân bay. Bên cạnh đó QDNĐVN cũng tăng cường lực lượng chống tăng bằng các tiểu đoàn pháo chống tăng của Nga (57mm) và Đức (PAK 40 75 mm)

    Trung đoàn xe tăng đầu tiên được thành lập vào ngày 5/10/1959 –trung đoàn 202. Trung đoàn này được trang bị 35 xe tăng T-34-85 và 16 xe SU-76. Vào năm 1964 trung đoàn 202 có 3 tiểu đoàn được trang bị thêm xe tăng T-54 và PT-76. Lúc này lực lượng tăng thiết giáp miền Bắc có khoảng 100 xe. Một ban nghiên cứu thiết giáp được thành lập vào năm 1965 để tìm ra cách đánh bằng tăng – thiết giáp.

    Chỉ với khoảng 100 xe tăng trong tay, QDNĐVN không chủ trương sử dụng xe tăng trong các trận đánh lớn, mà chủ yếu là bảo vệ các vị trí quan trọng và tránh thương vong cho bộ binh trong phòng thủ.

    Vì không được không quân yểm trợ nên Tăng Việt nam chú trọng vào ngụy trang, điều đó được chứng minh trong các trận đánh sau này nhiều tiểu đoàn Tăng miền Bắc di chuyển hàng trăm km mà không bị phát hiện.

    Vào năm 1962, những thành phần nòng cốt của trung đoàn 202 đã vào Trung ương cục miền Nam làm cố vấn về tăng – thiết giáp nhằm xây dựng lực lượng thiết giáp tại miền nam. Nhưng lại không mang theo chiếc xe nào. Lúc này quân GPMN được trang bị B-40 và B-41 thay thế cho Bazooka và súng 75 mm nặng nề, kết quả là tổn thất của Mỹ – Ngụy tăng lên đáng kể

    Xe tăng Việt Nam thực sự tham chiến ở Lào vào năm 1967 khi 2 đại đội PT-76 được gửi đến đó. Lúc này Bắc Việt có thêm xe thiết giáp BTR-50K

    Vào ngày 26/1/1968 Đại đội 3 PT-76 tấn công căn cứ Tà Mây của trung đoàn 24 Ngụy, quân Ngụy hoàn toàn tan vỡ. Thừa thắng lực lượng tăng PT-76 áp sát căn cứ Làng Vây của Mỹ. Trong trận này có 16 tăng PT-76 cùng 500 quân giải phóng đã tấn công Làng Vây. Đây là lần đầu tiên quân Mỹ đối đầu với lực lượng thiết giáp Bắc Việt. Cuối cùng Làng Vây thất thủ sau vài ngày giao tranh. Chỉ có một ít quân Mỹ - Ngụy mở đường máu thoát về được Khe Sanh. Quân giải phóng mất 6 xe tăng mặc dù bị máy bay và pháo oanh kích. Lực lượng bộ binh được thiết giáp che chở nên ít tổn thất, tỉ lệ thương vong là 1-6 so với quân Mỹ -Ngụy. Sau trận này Mỹ chỉ gặp thiết giáp giải phóng vài lần.

    Vào năm 1968 Mỹ có một trận tăng đấu tăng vói quân Bắc Việt tại sông Bến Hải, quân giải phóng mất 2 PT-76 và 1 BTR-50 trong trận này. Vào thời gian này Bắc Việt có khoảng 60 T-54, 50 T34-85 và 300 PT-76. thiết giáp gồm có BTR-40, BTR-152 và BTR-50.
    Năm 1970-1971 Liên Xô và Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam các loại tăng mới như T-54B, thêm một số PT-76, Tăng Trung Quốc T-59 và thiết giáp T-63

    Vào năm 1973, Việt Nam được trang bị thêm xe phòng không ZSU-23

    Đến năm 1975 Quân giải phóng có khoảng 1000 tăng thiết giáp bao gồm rất nhiều xe tăng-thiết giáp chiến lợi phẩm của Ngụy gần như còn nguyên vẹn. Các loại tăng – thiết giáp của Ngụy là M-41, M-48 và M-113. Trong đó xe M-113 còn được dùng cho đến tận ngày nay, còn xe M-41 và M-48 không thấy sử dụng nữa, có lẽ do thiếu phụ tùng thay thế hay do tính năng không phù hợp với bộ đội Việt Nam vốn đã quen với dòng xe tăng T-54/55 và T-59?

    Một số xe tăng thiết giáp đỉển hình của QDNDVN qua các thời kỳ














    Fight Dragon freedom
  2. 27-10-2009, 11:50 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:50 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #2

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Xe tăng chủ lực của Việt Nam -T-54
    31.07.2007 23:48

    Tương tự như súng AK, dòng tăng T-54 là dòng xe tăng phổ biến nhất trên thế giới, cho đến đầu thế kỷ 21 rất nhiều nước trên thế giới vẫn còn dùng T-54/55 và vẫn còn tiếp tục cải tiến. Việt Nam là nước sử dụng T-54 từ rất sớm khi nó còn là một trong những xe tăng chủ lực đáng gờm nhất trên thế giới.
    T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tăng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).






    Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II.





    T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan.




    Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Syria năm 1970, nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970, T-54 tham chiến ở Việt Nam, Cambodia và Uganda.

    Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.

    KHẢ NĂNG

    T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động, một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa, tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước, có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước.

    Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm”, áo giáp bán nguyệt lắp thêm, có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE).

    Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn, động cơ tốt hơn, xích bằng các miếng cao su, và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS, ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển, và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư, Marconi Digital FCS của Anh, SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên, được gọi là Drozd, được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980, và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối), được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo, hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng, và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.




    NHỮNG HẠN CHẾ

    T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại, vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính, gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính, không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu, nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái, dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn, thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính, vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn, và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái, chỉ huy, và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc, họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1,4m (5,5m với ống thông hơi). Tuy nhiên, có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được, và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.




    CÁC BIẾN THỂ

    Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.





    * T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).

    * T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.
    * T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.

    * T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.

    * T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.

    * T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.

    * T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ, và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm, nhưng ở vị trí khác với T54.





    * T-55AM có thêm vỏ yếm, một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.





    * T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.
    * T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.
    * T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.
    * T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.
    * T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.

    T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.




    Fight Dragon freedom
  3. 27-10-2009, 11:51 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:51 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #3

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-76
    16.01.2008 19:58

    Địa hình nước ta từ Nam chí Bắc phần lớn là rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích , xét về mặt địa thế hoàn toàn ko thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp .
    Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng ko thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn , đặc biệt là ko thích hợp cho các loại tăng lớn, nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967, cuộc hành quân Juinction City, quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp , trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48, kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam . Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40, mìn ch61ng tăng..).Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh.

    Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình , phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên 1 địa hình hoàn tòan ko phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam, các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao, trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh, tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh, Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử, hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.
    Sau đây Website vndefence lần lượt xin cung cấp thông tin về các loại tăng thiết giáp mà QDND Việt Nam hiện đang sử dụng

    XE TĂNG LỘI NƯỚC PT-76

    Thông số kỹ thuật
    Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ
    Nước Sản xuất:Liên Xô
    Nặng: 14 tấn với PT-76
    15,4 tấn với PT-76B
    Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m
    Cao: 2,26 m
    Rộng: 3,15m
    Tổ lái: 3 người
    Giáp trước : dày nhất 14mm
    Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm
    Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên
    1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT
    Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
    Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước
    Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước


    PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô, mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà ko cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác( T34,T54) . Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang ko đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet , các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX.Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu, có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm với tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người , PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt,phẳng , có hình dáng như mũi tàu .Xích xe có 6 bánh chạy và ko có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt ,nằm trên vị trí bánh thứ 2,3,4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn, cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính .

    PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw .Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1, BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát, bộ binh hạng nhẹ,và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát, nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng nên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển.Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km, hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km.Súng chính 76mm, bắn đạn HVAP HEAT, đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ , APC( xe bọc thép).PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy, cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.

    Như hầu hết các loại xe tăng của Liên Xô Sản xuất, PT-76 bị hạn chế khả năng hạ thấp súng chính và vì thế nên gây trở ngại cho việc bắn tỉa từ khu đất cao.Kiểu thiết kế lội nước của PT-76 làm kích thước của nó lớn ko cần thiết đối với trọng lượng cùa dòng tăng hạng nhẹ dẫn đến làm giảm vỏ thép bảo vệ của nó mỏng hơn các loại tăng hạng nhẹ khác. Chính vì lớp giáp tương đối mỏng cùa PT-76 làm nó rất dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn pháo và bởi đạn .50 cal(12,7x99mm).Thêm vào đó,chỉ huy vừa là xạ thủ đồng thời vừa là người điều khiển Radio , điều này làm hạn chế khả năng quan sát của anh ta. PT-76 cũng bị tụt hậu so với các thế hệ xe cơ giới chiến đấu của Liên Xô bởi ko có thiết bị quan sát ban đêm và hệ thống bảo vệ NBC( hệ thống bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học) cho tổ lái.

    Trong chiến tranh Việt Nam, PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây, Khe Sanh, dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây, PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu, yểm trợ bộ binh xung phong , làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh , gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt, 7 lính Mỹ chết), tuy nhiên phe QđND VN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi, tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐ ND VN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng, PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3 /1969 gần biên giới Lào, trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào Qđ NDVN thời nay , trang bị cho các đơn vị thiết giáp , bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.


    Tượng đài chiến thắng Làng Vây, Khe Sanh, Quảng Trị
    Fight Dragon freedom
  4. 27-10-2009, 11:51 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:51 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #4

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-1
    22.01.2008 19:59

    Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ.
    BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) , phối hợp giưã tính cơ động cao, vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai , điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này, các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới, nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.






    Xe BMP-1 của Viêt Nam trong một buổi diễu binh

    Sự phối hợp giữa hoả lực chống tăng hiệu quả, độ cơ động cao, giáp bảo vệ tương xứng, BMP-1 đã trở thành 1 thứ vũ khí lợi hại cho bộ binh Liên Xô.Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tấn công nhanh trong thời đại chiến tranh hạt nhân, súng chính 73mm loại 2A20 với 40 viên, bắn đạn HEAT có liều phóng hỗ trợ(loại đản mà RPG-7 sử dụng) có tầm bắn tối đa 7000 ft, tầm bắn hiệu quả cuả nó khoảng 800m( có thể tiêu diệt xe tăng ở khoan3g cách tới 1300m) và đượ ctrang bị hệ thống nạp đạn tự động.Hệ thống vũ khí chính cuả BMP-1 cũng khác thường, có thể bắn chung loại đạn cuả súng chống tăng RPG-7 , bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger gắn trên súng chính để tăng thêm khả năng diệt tăng (tới 3000m)
    BMP-1 có đầy đủ tính năng cuả 1 Xe chiến đấu bộ binh lội nước, với thân xe thấp, mũi xe nghiêng như mũi thuyền.Tháp pháp hình chóp cụt đặt ở giưã thân xe được gắn 1 súng chính 73mm nòng trơn và 1 đại liên7,62mm đồng trục và 1 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger ngay phiá trên súng chính. Động cơ 6 xi-lanh Diesel làm mát bằng nước có công suất 290 mã lực đặt ở bên phải trước thân xe.Cưả dành cho lái xe nằm ở bên trái thân trước, đèn nhìn đêm IR gắn ở trên nóc tháp pháo,phiá trước cưả dành cho xa trưởng. Phiá sau thân xe có 4 cưả nhỏ ở trên sàn khoang chở lính và có 2 cưả ra vào lớn ở sau đuôi xe.Có 4 lỗ châu mai ở mỗi bên sườn cuả khoang chở lính và 1 lỗ ở cưả ra vaò bên trái.BMP-1 chạy bằng xích, có 6 bánh dẫn động giống như PT-76 nhưng có thêm 3 bánh đỡ xích.BMP-1 có khả năng lội nước bằng xích cuả nó thay vì lội bằng hệ thống đẩy phản lực nước như ở PT-76 , có tốc độ và tầm hoạt động cần thiết để bắt kịp các loại xe tăng tốc độ nhanh mà nó đi theo trong đội hình tấn công.




    Hỏa tiễn chống tăng trên BMP-1



    Tổ lái cuả BMP-1 gồm 3 người , bao gồm cả xa trưởng, người mà sẽ trở thành chỉ huy nhóm bộ binh tác chiến khi họ rời khỏi xe.Với các lỗ châu mai và kính tiềm vọng ở 2 bên sườn xe, lính bộ binh ngôì trong xe có thể bắn bằng các loại vũ khí cá nhân như AK, trung liên PKM ngay cả trong khi di chuyễn, thậm chí cả súng chống tăng RPG-7,RPG-16 và cả tên lưả vác vai SA-7, điều naỳ khiến cho BMP-1 gần như là 1 lô cốt di động. Xe có hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái và lính bộ binh, giúp họ tác chiến mà ko bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
    BMP-1 được trang bị đèn hồng ngọai, tiềm vọng kính và thiết bị ngắm hồng ngoại để tác chiến ban đêm.BMP-1 có tính năng tạo khói mù bằng cách phun nhiên liệu diesel vào buồng thải khói.

    Tuy nhiên, tính chất dễ bị tổn thương cuả BMP-1 thể hiện qua cuộc chiến tranh ở Trung Đông năm 1973 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quân đội Liên Xô về vấn đề :" BMP-1 nên được sử dụng như thế nào trong trận chiến?". BMP-1 có giáp bảo vệ tương đối mỏng( dày nhất 19mm ở thân xe và 23mm ở tháp pháo) có thể đủ sức bảo vệ xe trước đạn xuyên giáp chống cơ giới cỡ 12,7mm ( chỉ với chỗ giáp có độ nghiêng trên 60 độ) nhưng BMP-1 lại dễ bị tổn thương trước tên lưả chống tăng và hoả lực xe tăng cuả đối phương. Sự bố trí cuả các vị trí nguy hiểm như buồng đạn, buồng nhiên liệu , khoang động cơ hay khoang chở lính đều ko an toàn trước sự xuyên phá cuả vũ khí chống tăng.

    Vì thiết kế giới hạn trong việc hạ thấp súng chính nên BMP-1 khó khăn khi bắn tiả từ vị trí cao mà phải lộ toàn thân ra để chiến đấu, điều này làm BMP-1 dễ dàng trở thành mục tiêu nhắm bắn cuả đối phương.

    BMP-1 có thể đạn đến vận tốc tối đa cuả nó là 70km/h nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn do độ dằn xóc quá cao và hệ thống truyền động ko thể đáp ứng được.Do hệ thống nạp đạn tự động quá phức tạp và thiếu ổn định nên BMP-1 ko thể bắn khi đang chạy trên điạ hình gồ ghề. BMP-1 phải đứng yên khi bắn tên lưả AT-3 Sagger, AT-3 Sagger rất khó nạp đạn và hoàn toan2 ko thể nạp đạn trong tình trạng bảo vệ NBC.

    Nhìn chung BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên nên nó vẫn còn 1 số khuyết điểm và vẫn thưà hưởng những hạn chế cuả dòng tăng Liên Xô, tuy nhiên nó vẫn là 1 thứ vũ khí đáng tin cậy cua bộ binh trên chiến trường và được rất nhiều quốc gia sử dụng.Tham gia nhiều cuộc chiến tranh:

    1973 CHiến tranh Yom Kippur( Israel+ các nước Ả Rập)
    1975-2000 Nội chiến Angola
    1979-1988 Chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan
    1980-1988 Chiến tranh Iran-Iraq
    1990-1991 Chiến tranh vùng Vịnh
    1991-2001 chiến tranh Nam Tư
    1994-1996 Chiến tranh Chechen lần 1
    1999- Chiến tranh Chechen lần 2
    2001- Chiến tranh cuả Mỹ tại Afghanistan
    2003- Chiến tranh Iraq
    Hiện nay Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 300 chiếc BMP-1


    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe chiến đấu bộ binh
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng 13.5 tấn
    14.7 tấn với BMP-1P[1]
    Dài: 6.74m
    Rộng: 2.94 m
    Cao: 2.15 m
    Tổ lái: 3 (Xa trưởng, lái xe, xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
    Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
    Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
    Đại liên đồng trục 7,62mm
    Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
    9M111 Fagot (AT-4 Spigot) , 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) ,9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
    Động cơ:UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
    290-300 mã lực
    Tầm hoạt động:600km
    TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề
    7km/h dưới nước
    Fight Dragon freedom
  5. 27-10-2009, 11:52 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:52 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #5

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113
    28.01.2008 23:40

    Thiết giáp chở quân (APC – Armored Personel Carrier) hay còn gọi là thiết vận xa M-113 là loại xe APC phổ biến nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đaị. Được sản xuất vào cuối thập niên 50, vào thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, với hơn 28.000 chiếc được sản xuất với 12 phiên bản khác nhau nhưng chủ yếu là các phiên bản M-113A1, M-113A2, M-113A3. Hiện nay M-113 còn phục vụ trên 50 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

    Thiết vận xa M 113 và cuộc thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam


    Cuối năm 1961, trước áp lực quân sự ngày càng cao của quân giải phóng miền Nam (GPMN), tiến hành hàng loạt cuộc tấn công vào vị trí phòng thủ của Quân VNCH, Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho VNCH. Trong số những quân dụng được Hoa Kỳ chuyển giao cho Quân VNCH có loại xe thiết giáp M 113. Ban đầu, các xe này được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh có sử dụng cơ giới. Cuộc chuyển giao M-113 phục vụ trong chiến đầu tiên diễn ra vào ngày 30 tháng 2/1962 với 32 chiếc M 113, trong đó 30 chiếc giao cho hai đại đội thiết giáp Ngụy, mỗi đại đội có 15 chiếc. Theo tổ chức, mỗi đại đội có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ, mỗi chi đội chiến đấu có 3 M-113, chi đội yểm trợ có 4 chiếc M 113, trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M-113, một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa. Hai đại đội M-113 này chính thức xuất quân vào ngày 11-6-1962, và VNCH quyết định đưa hai đơn vị này xuống đồng bằng Cửu Long để bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn. Hai đại đội đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh, sau đó được cải biến thành đại đội 7 và đại đội Cơ giới M-113.


    Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ, loại M 113 được dùng như một loại “Taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu, thế nhưng trên chiến trường VN, kinh nghiệm cho thấy đem lực lượng bộ binh tới sát mục tiêu thường bị tổn thất nặng, khả năng di động bị hạn chế tối đa, phải hy sinh khả năng yểm trợ của thiết vận xa. Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ đã khẳng định như “đinh đóng cột” rằng Việt Nam là chiến trường của Bộ binh, không phải là đất dụng võ cho lực lượng thiết giáp. Các vị tướng Hoa Kỳ cũng đưa ra dẫn chứng bằng những những thất bại của Thiết giáp Pháp trong cuộc chiến từ 1946-1954 tại Việt Nam. Các nhà quân sự Mỹ kết luận rằng Việt Nam có địa hình chi chít núi non rừng rậm và nhiều sông ngòi đầm lầy chỉ là “mồ chôn” cho các loại xe cơ giới này. Từ những kinh nghiệm đó, Mỹ và quân VNCH đã biến M-113 thành xe chiến đấu trực tiếp hơn là một xe thiết vận xa APC thuần túy. Với một đại liên 12,7 mm và hai trung liên 7,62 mm bắn được về phía bên sườn, M-113 đã trở thành một lo cốt di động khá lợi hại, bộ binh trong xe có thể chiến đấu trực tiếp thay gì núp kín và chờ đến nơi qui định mới xuống xe để chiến đấu. Và cách đánh này cũng được nhiều đơn vị Hoa Kỳ áp dụng sau này.


    Thời gian này, Thiết vận xa M-113 càng ngày càng trở thành một loại thiết giáp đa năng, có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho thiết giáp như ở Miền Tây sông ngòi chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào, M-113 cũng có cách thích ứng ngay. Trong năm 1963 nhiều chiến thuật, kỹ thuật và đơn vị mới được thử nghiệm trên chiến trường 4 vùng chiến thuật. Trong số những cải tiến này là loại xe M-113 được gắn thêm một khẩu đại liên Browning 50. Với lớp giáp khá dầy, tốc độc nhanh, công suất lớn và đặc biệt M-113 có khả năng lội nước rất nhanh, lúc đầu M-113 đã gây rất nhiều khó khăn cho quân GPMN. Thiết giáp của quân VNCH xuất hiện trong lúc quân GPMN còn yếu và vũ khí chống tăng của quân GPMN thô sơ và hiếm. Quân GPMN không có kinh nghiệm chống thiết giáp, vì thế thiết giáp M-113 của quân VNCH rất hữu hiệu và gây cho quân GPMN nhiều khó khăn lúc đầu. Quyết tâm của quân GPMN là phải thắng chiến thuật “thiết xa vận” và “trực thăng vận” của quân VNCH. Tâm lý bộ đội lúc đầu còn sợ xe bọc thép M113 của quân VNCH bởi chúng rất lợi hại, cơ động nhanh, đi được ở dưới nước.



    Toàn quân khu lúc ấy phát động phong trào “dùng súng bộ binh tiêu diệt xe M113 của quân VNCH”. Với tinh thần sáng tạo và ý chí kiên cường, quân GPMN đã sáng tạo ra nhiều cách đánh. Quân GPMN đào hầm hố trên các con đường ở miền Tây, những mìn bẫy chống tăng được gài hàng dọc hoặc tại những chỗ quẹo. Sau đó, quân GPMN được chi viện thêm các loại vũ khí mới như loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ AK 47; súng chống tăng B-40, B-41. Thậm chí đạn AK-47 cải tiến cũng có thể xuyên thủng được vỏ nhôm của M-113 vốn dùng để chống lại bụi phóng xạ hạt nhân. Trong trận Ấp Bắc tháng Giêng 1963, hàng loạt M-113 đã bị bắn hạ, rất nhiều xạ thủ đại liên tử trận nên và một số xe M-113 bị bắt sống, quân VNCH đã phải cải tiến M-113 rất nhiều trong đó có việc chế ra cái tấm chống đạn bao quanh xạ thủ đại liên hay gắn thêm lưới B-40, bao cát. Như vậy M-113 không còn đáng sợ nữa. Có câu chuyện do các cựu binh kể lại rằng sau này khi hay tin du kích bắn hạ được xe M113, những người Hoa kiều ở Chợ Lớn lần tìm đến Củ Chi đặt hàng mua một số linh kiện máy móc và vỏ nhôm. Cứ mỗi chiếc anh em du kích bán được 10.000-15.000 đồng, đủ mua gạo mắm, thuốc thang cho cả đại đội ăn trong cả tuần. “Làm ăn” được đến nỗi khi cạn kiệt lương thực, thực phẩm thì anh em bộ đội, du kích cứ nhong nhóng chờ bọn xe lội nước M-113 đến để kiếm tiền “cải thiện”.





    Xe M-113 trong lực lượng tăng - thiết giáp quân đội nhân dân Việt Nam

    Ngay từ khi quân VNCH dùng xe tăng thiết giáp để đàn áp phong trào cách mạng ở miền Nam, quân GPMN đã nghĩ đến việc xây dựng lực lượng tăng thiết giáp tại miền nam để chống lại chúng. Với truyền thống quân tay không giết giặc, lấy vũ khí địch đánh địch quân GPMN đã bắt sống nhiều xe tăng quân VNCH, thậm chí có đơn vị đặc công táo bạo tập kích bãi đậu xe quân VNCH và lái xe chiến lợi phẩm về căn cứ an toàn. Trận đánh xe tăng đầu tiên tại miền nam của quân GPMN diễn ra vào ngày …. Với sự “tham chiến” của lực lượng “hỗn hợp” tăng – thiết giáp gồm 4 xe: M-24, M-41, M-8 và M-51. Quân VNCH đã thực sự bất ngờ và hỏang lọan xe tăng của “Việt Cộng”. Sau này trứơc khi những xe tăng bơi PT-76 xuất hiện ở trận Làng Vây, quân GPMN đã có trong quân GPMN vài chục chiếc xe tăng M-41 và thiết vận xa M-113 làm vốn để xây dựng nên những binh đòan tăng – thiết giáp hòan chỉnh.


    Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tại Đà Nẵng trứơc sức tấn công nhanh và mãnh liệt của quân giải phóng quân VNCH đã bỏ lại hàng trăm xe tăng và thiết giáp còn nguyên vẹn, trong đó phần nhiều là M-113, M-41, quân GPMN sử dụng ngay những chiếc xe này để đánh quân VNCH.


    Sau khi giải phóng miền Nam, quân GPMN thu được hàng ngàn xe tăng – thiết giáp các loại của quân VNCH còn sử dụng được, trong đó theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài – còn khỏang 500 xe tăng M-113 còn sử dụng được.




    Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, quân Việt Nam sử dụng rất nhiều xe M-113 cùng với T-54/55 để đánh Khmer Đỏ, M-113 được xem là lực lượng xung kích chủ yếu trong lực lượng tăng – thiết giáp trong thời kỳ đó và tỏ ra rất hiệu quả trong tấn công. Hiện nay trong khi các loại tăng chiến lợi phẩm như M-41, M-48 gần như không còn phục vụ nữa, thì M-113 vẫn còn là lực lượng chủ yếu trong binh chủng tăng – thiết giáp Việt Nam. Tuy nhiên do bị thiệt hại trong chiến tranh và thiếu phụ tùng thay thế nên số lượng M-113 của Việt Nam bị hao hụt rất nhiều, hiện tại con số M-113 còn họat động không được chính xác, theo một số nguồn tin con số này là khỏang 200.



    Hiện nay QĐNDVN đã từng bước hiện đại hóa số M-113 còn lại bằng cách gửi ra nước ngoài và thay thế các phụ tùng đã hư hỏng bằng thiết bị dễ kiếm từ các nguồn khác trong lúc Mỹ vẫn còn chưa có quan hệ quân sự sâu rộng với Việt Nam. Về vũ khí Việt Nam hầu hết đã thay thế súng Mỹ bằng súng Nga, cụ thể là thay đại liên Browning .50 bằng đại liên 12,7 mm. M-113 sẽ còn phục vụ trong lực lượng lâu dài trong điều kiện Việt Nam còn khó khăn trong việc trang bị mới bằng một loại xe APC tương đương với M-113.




    Tài liệu tham khảo

    Fas.org
    Vietbao.com
    Tiengiang.gov.vn
    Chống xe tăng bằng vũ khí bộ binh. Nxb Quân đội, 1979.
    Fight Dragon freedom
  6. 27-10-2009, 11:52 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:52 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #6

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng tăng – thiết giáp Việt Nam: Các loại thiết giáp bánh hơi
    27.03.2008 07:06

    Thiết giáp bánh hơi phục vụ tích cực trong đội hình lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam, cới khả năng cơ động cao, linh hoạt. Số lượng chiến gần nữa trong tổng số Tăng thiết giáp hiện có của Việt Nam, bao gồm rất nhiều loại








    Loại: Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 5.3 tấn
    Dài: 5 m
    Rộng: 1.9 m
    Cao: 1.83 m
    Tổ lái: 2 người + 8 lính
    Giáp: 6-8 mm
    Vũ khí: 3 súng máy 7.62 mm
    Động cơ: GAZ-40
    78 mã lực (58 kW)
    Tầm hoạt động: 285 km
    TỐc độ: 80 km/h

    Xe thiết giáp BTR-40 là loại xe thiết giáp chở lính và trinh sát cuả quân đội Liên Xô, phát triển bởi V. A. Dedkov, được thiết kế dưạ trên mẫu BTR-141 trong thế chiến thứ 2 và được sản xuất tại hãng Gorkovsky Avtomobilny Zavod từ 1950 tới 1958. Xe có 2 cưả hông dành cho xa trưởng và lái xe và 1 cưả sau ở đuôi khoang chở lính có thể chở 8 binh sĩ. BTR-40 được sử dụng làm xe thiết giáp chở lính, trinh sát, tuần tra và công tác chỉ huy. Nó ko có hệ thống bảo vệ NBC và thiết bị nhìn đêm. Việt Nam sử dụng lạoi BTR-40A, có vũ trang 1 súng phòng không KPV 14,5mm nòng đôi và được sử dụng như xe phòng không. Việt Nam cũng cải tiến BTR-40 thành xe phóng từ để phá bom từ trường trong chiến tranh chống Mỹ. Hiện nay BTR-40 đã hầu như không còn phục vụ trong lực lượng thiết giáp Việt Nam.










    Loại:Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 9.91 tấn
    Dài: 6.83 m
    Rộng: 2.32 m
    Cao: 2.36 m
    Tổ lái 2 người (+17 lính)
    Giáp: 4–15 mm
    Vũ khí: 2 Súng máy 7.62mm hoặc 1 súng máy 12.7mm +1 súng 7,62mm
    Động cơ: ZIS-123 6 cylinder Xăng làm mát bằng nước 110 mã lực
    Tầm hoạt động: 650 km
    Tốc độ: 65 km/h


    Xe thiết giáp BTR-152 là loại xe thiết giáp chở quân chạy bằng bánh cuả Liên Xô được sản xuất vaò những năm 1950.Cấu trúc thân xe là cấu trúc hàn, động cơ và bộ phận điểu khiển vận hành đặt ở trước xe.Tổ lái gồm Laí xe, phụ lái và có khoang chở 17 lính ở sau xe.Xe chạy bằng 6 bánh cao su,lốp xe có bộ phận giảm xóc để giúp tổ lái ko bị mệt moỉ khi chạy trên điạ hình xấu, vũ khí chính là 1 súng máy 7,62mm nhưng tuỳ theo phiên bản, nó còn được trang bị súng phòng không 14,5mm và 23mm.Mẫu BTR-152 V3 được trang bị cả đèn hồng ngoại nhìn đêm . Xe có các cưả quan sát giúp cho binh lính có thể chiên đấu từ trong xe.BTR-152 chấm dứt sản xuất vào năm 1960 và sau đó được thay thế bằng BTR-60 nhưng nó vẫn được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam.





    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)
    11.1 tấn (BTR-60PA)
    11.4 tấn (BTR-60PB)
    Dài: 7.56 m
    Rộng: 2.825 m
    Cao: 2.06 m
    2.31 m (BTR-60PAI, BTR-60PB, BTR-60PBK và BTR-60PZ)
    Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)
    2 + 14 lính (BTR-60PA)
    3 + 14 lính (BTR-60PAI , BTR-60PB và BTR-60PZ)
    Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe
    7mm ở tháp pháo
    Vũ khí: 1 đại liên 12,7mm hoặc 14,5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7,62mm
    Động cơ: 2 động cơ6-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tuỳ phiên bản
    Tầm hoạt động: 500km
    Tốc độ:80km/h trên cạn
    10km/h dưới nước

    Xe thiết giáp BTR-60 là mẫu thiết giáp chạy bằng 8 bánh đầu tiên cuả Liên Xô, được phát triển vào cuối những năm 1950 để thay thế xe thiết giáp BTR-152 và được ra mắt vaò năm 1961.Nó liên tục được cải tiến và mẫu cải tiến cuối cùng là BTR-60PB, sau cùng được thay thế bởi mẫu BTR-70. Về số lượng thì BTR-60 là xe thiết giáp có vai trò quan trọng nhất trong quân đội Liên Xô.BTR-60 được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước Đông Đức, Bulgaria và Romania. BTR-60 là loại xe thiết giáp chủ lực cuả lự clượng Hải quân đánh bộ Liên Xô.





    BTR-60PB thể hiện tính năng di chuyển tốt trên đường gồ ghề.Hình dạng thân xe giống như mũi thuyền với 2 bên sườn xe nghiêng giúp xe có khả nặng lội nước tốt và làm chệch hướng bắn cuả đầu đạn đối phương.BTR-60PB còn có thiết bị nhìn đêm hồng ngoại cung cấp khả năng tác chiến ban đêm.

    Xe chạy bằng 8 bánh cao su,thân xe được kết cấu bằng thép hàn với hình dạng hình thân thuyền, giáp bọc 2 bên sườn xe , mũi xe đều có độ nghiêng.Vị trí cuả Tổ lái được bố trí ở phần đầu xe, khoang chở lính bố trí ở giữa thân xe còn Khoang động cơ bố trí ở sau đuôi xe. Khoang chở lính được bao bọc kín bởi giáp trên nóc xe và có 1 tháp pháo nhỏ 1 người, cùng loại với tháp pháo gắn trên xe BRDM-2, trên tháo pháo có gắn 1 súng phòng không 14,5mm KPV và 1 đại liên đồng trục 7,62mm bên phải và kính tiềm vọng gắn bên trái tháp pháo.Tổ lái sử dụng 2 cưả trên thân xe nằm trước tháp pháo, còn 2 cưả sau tháp pháo dành cho lính bộ binh.Mỗi bên sườn xe có đặt 3 lỗ châu mai để bộ binh chiến đấu từ trong xe.

    Lốp xe có bộ phận giảm xóc và được viền cao su.4 bánh đầu là bánhh truyền động và định hướng.Thiết bị truyền động là 1 cặp động cơ 6 xilanh chạy bằng khí đốt đặt ở sau thân xe. Trục xe thứ 1 và thứ 3 được truyền động bởi động cơ bên phải, trục thứ 2 và thứ 4 được truyền động bởi động cơ bên trái. BTR-60 có khả năng lội nước bằng 2 ống đẫy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.

    Mặc dù BTR-60 có giáp dày hơn các loại xe thiết giáp thông thường khác nhưng lại rất dễ bị tổn thương bởi đạn HE(High Explosive) cũng như vũ khí cá nhân, lốp xe cũng rất dễ bị thủng bởi đạn súng bộ binh.Các thiết bị bọc giáp mỏng cuả xe(bình nhiên liệu, đèn...) rất dễ bị phá huỷ trước sức công phá cuả pháo mặt đất.Hơn njưã sự bố trí các cưả ra vào và cưả quan sát làm bộ binh rất dễ bị tổn thương trước đạn cuả quân địch.
    BTR-60 được sử dụng trong các cuộc chiến tranh Yom Kippur War năm 1971 giưã Israel và các nước Ả Rập, chiến tranh Ấn Độ-Pakistan ,chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan, chiến tranh Checchen..

    Hiện nay quân đội VN có khoảng 400 xe BTR-60 và nó là xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ VN.











    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại: Xe thiết giáp trinh sát
    Nước SX: Liên XÔ
    Nặng: 7 tấn
    Dài: 5.75 m
    Rộng: 2.35 m
    Cao: 2.31 m
    Tổ lái: 4 người (driver, co-driver, commander, gunner)
    Giáp: 14 mm
    Vũ khí: Súng phòng không 14.5mm KPVT
    Súng máy 7.62mm PKT
    Động cơ: GAZ-41 khí đốt 140 mã lực (104 kW)
    Tầm hoạt động: 750 km
    Tốc độ: 95 km/h

    Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 được Liên Xô chế tạo để đáp ứng nhu cầu cải thiện hỏa lực mạnh cho các xe thiết giáp trinh sat1 lội nước. BRDM-2 được cải tiến so với BRDM-1 bằng động cơ mạnh hơn và lắp đặt sau xe, gắn thêm 1 tháp pháo loại cuả BTR-60 có trang bị 1 súng phòng không 14,5mm KPV.BRDM-2 ra mắt vào năm 1966 và được các nước trong hiệp ước Warsaw sử dụng thay thế loại BRDM-1 cũ, nó có khả năng lội nước bằng ống đẩy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.





    Giáp cuả BRDM-2 chỗ dày nhất 14mm rất dễ bị tổn thương bởi mảnh pháo hay đạn 12,7mm. Lốp xe ko có giáp bảo vệ nên rất dễ bị chọc thủng bời đạn cuả đối phương.BRDM-2 cũng tương tự như BRDM-1 cũng có 2 bánh xe nhỏ dưới bụng hỗ trợ khi vượt qua đồi núi, có bộ phận giảm xóc ở lốp xe.Thân xe cuả BRDM-2 lớn hơn và khoang động cơ lớn hơn BRDM-1 đặt ở sau xe.BRDM-2 còn được gắn đèn hồng ngoại nhìn đêm và hệ thống bảo vệ NBC.


    Fight Dragon freedom
  7. 27-10-2009, 11:54 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:54 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #7

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: PT-85
    19.01.2008 20:30

    Ngoài PT-76 quân đội nhân dân Việt Nam còn dùng các xe tăng lội nước sau: Type-63, do Trung quốc chế tạo . Tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.
    PT-85 được sản xuất dựa theo mẫu của PT-76 nhưng được thay tháp pháo tương tự như xe tăng T-54, T-59 với nòng pháo cỡ 85 mm. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot ta thu được nhiều xe PT-85 (Type-63) của Trung Quốc cung cấp cho Khmer đỏ, sau đó trang bị lại cho quân giài phóng Campuchia.

    Dưới đây là 2 loại xe nói trên

    XE TĂNG LỘI NƯỚC TYPE 63

    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại:Xe tăng lội nước hạng nhẹ
    Nước sản xuất: Trung Quốc
    Nặng:18.4 tấn
    Dài 7.288 m
    Bề ngang: 3.2 m
    Cao: 2.522 m
    Tổ lái:4 người
    Vũ khí: Súng chính 85mm( 105mm với Type 63A)
    1 đại liên đồng trục 7,62mm
    1 đại liên 12,7mm gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ:12150L2 diesel
    400 mã lực
    Tầm hoạt động: 370km
    Vận tốc: 64km/h trên cạn
    12km/h dưới nước

    Xe tăng lội nước Type 63 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được Trung Quốc chế tạo dưạ theo y nguyên bản PT-76 cuả Liên Xô, chỉ khác là Type 63 được gắn tháp pháo cuả Type 62 hình vòm, có 1 lỗ thông hơi được gắn ống thở . Súng chính được thay thế bằng pháp 85mm có thể bắn đạn AP, APHE, HE, và HEAT thay cho loại 76mm cuả PT-76, Type 63 còn được trang bị thêm 1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo.Tổ lái nâng lên 4 người và động cơ 12150L2 Diesel 400 mã lực cuả nó nâng tốc độ tối đa trên cạn lên tới 64km/h.Type 63 được TQ cung cấp cho Quân đội NDVN trong kháng chiến chống Mỹ, có tham gia các trận đánh kèm với PT-76, hiện nay được sử dụng trong 1 số đơn vị tăng thiết giáp và Hải quân đánh bộ. Type 63 vẫn còn được Quân đội Trung QUốc sử dụng trong các đơn vị Thuỷ quân lục chiến nhưng với phiên bản Type 63A.









    PT-85 của Việt Nam
    Fight Dragon freedom
  8. 27-10-2009, 11:54 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:54 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #8

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam


    T-62 là bước kế tiếp của series T-54/55, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và được duy trì cho tới năm 1975. Nó trở thành loại MBT (main battle tank) tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới LX, thay thế cho T-54/55. Phiên bản T-62 A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Vào khoảng thập niên 80 nó được thay thế bằng thế hệ tăng T-64/72/80 tiên tiến hơn.
    Mô tả sơ bộ:
    Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái và được đúc liền vào thân chứ không táng ri-vê. Nắp cảu pháo thủ nằm bên phải



    Súng nòng trơn 115-mm(bắn được ATGM) có nòng dài hơn và nhỏ hơn nòng pháo 100mm cuả T-54/55 (115 mà bé hơn 100 àh?) và cái bore evacuator ( một thiết bị có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái, chảng biết dịch ra tiếng Việt là sao?) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.

    Tính năng:
    Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa.Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km ,trên đường bằng phẳng là 450km với thùng nhiên liệu bên trong.Nếu đeo thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200l thì 450km đường xấu và 650km đường bằng phẳng.hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang
    và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55.Một số T-62 còn có khả năng trang bọ thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các model T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe.



    Sự cải tiến đáng giá nhất của T-62 so với T-54/55 là khầu pháo chính 115mm nòng trơn. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khao3ng 1,6 km.1 cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE.T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo.

    Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng.Thêm vào đó là những thiết bị ngắm thermal cho phép phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng 2 chức năng này ko dùng song song được.

    Hạn chế
    T-62 cũng có những hạn chế giống T-55 : không gian chật hẹt của tổ lái, giáp mỏng, thiết bị điều khiển pháo thô lậu, góc hạ nòng súng thấp và khu vực chứa nhiên liệu đạn dược đễ bị tổn thương. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí CO2 và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC.

    Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng ko thể quay được khi đang thao tác nạp đạn. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp.Khi nắp ca-pô của tài xế mở ra, tháp pháo cũng ko thể quay được. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta ko thể bắn được pháo từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát.

    Cuối cùng,để sử dụng khẩu 12,7mm pháo thủ phải leo ra ngoài tháp pháo

    các phiên bản:
    T-62A:bên cạnh khẩu đồng trục 7,62mm PKT có tầm bắn khoảng 100m, model này có thêm 1 khẩu 12,7mm DShK với tầm bắn khoảng 1500m.Model này cũng có hệ thống tự ổn định nòng súng giúp tăng độ chính xác khi tác xạ trong hành tiến.
    T-62K:tank chỉ huy với hệ thống định vị và quan sát cao cấp.
    T-62M có thêm giáp, FSC và khả năng băn ATGM
    T-62D có hệ thống chống ATGM Drozd APS và giáp ERA

    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Tên:T-62M
    Năm sản xuất:1983
    Tổ lái: 4 người
    Nặng 41,5 tấn
    Dài 6.63m
    Cao 2.4m
    Rộng 3.52m
    Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
    Tầm hoạt động :450/650km với thùng dầu phụ
    Tốc độ: 50km/h trên đường nhưạ và 40km/h đường gồ ghề
    Giáp:230 mm trước tháp pháo
    153 mm sườn tháp pháo
    97 mm sau tháp pháo
    40 mm đỉnh tháp pháo
    102 mm trước thân
    79 mm sườn xe
    46 mm đuôi xe
    20 mm gầm xe
    31 mm nóc xe
    Pháo chính :115mm nòng trơn modle 2A20
    Tốc độ bắn :3-5 viên/ phút
    Nạp đạn: thủ công
    Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
    1 đại liên 7,62mm đồng trục
    1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo
    Fight Dragon freedom
  9. 27-10-2009, 11:56 AM
    Chuyên viên
    Bắt đầu vào 27-10-2009, 11:56 AM
    Bài viết: 114
    rongchien is offline
    #9

    Default Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam

    Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: BMP-2
    30.01.2008 20:46

    Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 được đưa vào sử dụng vào những năm 1980, là mẫu cải tiến cuả BMP-1 với những thay đổi về vũ khí chính.






    Tháp pháo mới 2 người được thay thế cho tháp pháo 1 người cuả BMP-1, súng chính 30mm nòng dài, nhỏ , tốc độ cao có thể dùng để chống lại máy bay, trực thăng và bộ binh, bệ phóng tên lưả chống tăng gắn trên tháp pháo có thể lắp các loại tên lưả chống tăng như AT-4 SPIGOT hoặc AT-5 SPANDREL. Với tháp pháo được thiết kế rộng hơn, số lượng cưả quan sát cho lính bộ binh giảm xuống còn 2 cưả thay vì 4 cưả ở BMP-1, và số lính bộ binh chở theo giảm đi 1 người( còn 7 người). Mỗi bên sườn xe ở vị trí khoang chở lính có 3 lỗ châu mai và tiềm vọng kính.



    BMP-2 có khả năng lội nước như BMP-1, xích cuả nó được cải tiến so với BMP-1 để tăng khả năng nổi trên mặt nước. BMP-2 có thể trang bị giáp nổ cảm ứng ERA nhưng ERA lại gây nguy hiểm cho bộ binh tùng thiết nên giáp bảo vệ thụ động thích hợp hơn còn ERA thì ko được tin cậy, hơn nưã khi lội nước mà gắn thêm giáp thì ko phù hợp.BMP-2 có thêm 1 số cải tiến về bộ phận điều hoà ko khí và động cơ mạnh hơn BMP-1. Tháp pháo được thiết kế rộng hơn và có 2 cưả quan sát cho 2 người, như vậy sẽ có 1 người điều khiển súng chính 30mm loại 2A72 và 1 người sử dụng tên lưả chống tăng, tránh được việc 1 người làm 2 việc cùng lúc. Bệ phóng tên lưả chống tăng Kornet được trang bị thiết bị ngắm hồng ngoại, gồm 1 tên lưả trên bệ phóng và 4 tên lưả dự trữ, cơ chế nạp đạn bằng tay. Loaị tên lưả sử dụng có thể là AT-4, AT-4B hoặc AT-5,AT-5B, ngoài ra BMP-2 có thể sử dụng các loại tên lưả Milan, Milan-2,Milan-3. Thiết bị định hình mục tiêu cho tên lưả bằng hồng ngoại loại Trakt/1PN65 cuả Nga được trang bị cho BMP-2 có tầm định vị khoảng 2500m. Loại Mulat/1PN86 cuả Nga có thể đạt tới 3600m.




    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe chiến đấu bộ binh
    Nước sản xuất: Liên Xô
    Nặng: 14.3 tonnes
    Dài: 6.72 m
    Rộng: 3.15 m
    Cao: 2.45 m
    Tổ lái: 3 người + 7 lính bộ binh
    Giáp: Dày nhất 33mm
    Vũ khí: Súng chính 30mm loại 2A42
    Tên lưả chống tăng AT-4 hoặc AT-5
    1 đại liên đồng trục 7,62mm
    Động cơ: UTD-20/3 Diesel 300 mã lực
    Tầm hoạt động: 600km
    Vận tốc: 65km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề


    Fight Dragon freedom

Tags:

None