Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học, từ đó nêu lên giải pháp cơ bản của việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học. Liên hệ bản thân.
Bài mang tính tham khảo.
* Bản chất của CNDVBC.

a. CNDVBC đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn:

- CNDV cũ: (thô sơ chất phát) của Phơ bách thiếu quan điểm thực tiễn, máy móc, không thấy được tính năng động của ý thức, không mang tính trực quan, không giải quyết những vấn đề cơ bản của triết học;
- CNDVBC:
+ Khẳng định quan điểm DV về TG, đặt nền móng cho CNDV về sau này;
+ Đấu tranh chống lại quan điểm chủ nghĩa duy tâm tôn giáo về thế giới.
+ Sự ra đời của CNDVBC (Mác xít) tạo ra bước ngoặc lịch sử, Mác đặt quan điểm thực tiễn vào trong triết học, thay đổi tận gốc quan điểm triết học.
+ CNDVBC khẳng định: vật chất có trước và quyết định ý thức (nguyên tắc xuất phát của CNDVBC), nếu không thấy quan điểm này sẽ rơi vào CNDT, biểu hiện chủ quan duy ý chí.
+ Ý thức không phải là sự phản ảnh thụ động, rập khuôn, máy móc mà là sự phản ảnh tích cực, năng động, sáng tạo và có sự tác động trở lại đối với vật chất, nếu không thấy điều này sẽ rơi vào CNDT tầm thường, CNDV siêu hình, máy móc.
Mác không những đã làm cuộc cách mạng chủ nghĩa triết học mà còn là cơ sở khắc phục những khuyết điểm, những hạn chế của CNDV cũ.
b. Sự thống nhất của TGQDV và phương pháp luận BC.

- Phép BCDV trình bày một cách hệ thống, chặt chẽ, có tính biện chứng của TG thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của TG (tự nhiên, xã hội và tư duy).
- PBC của Mác và Anghen hình thành dựa trên sự kế thừa có chọn lọc những thành tựu của những nhà Triết học trước đó. Mác cải tạo PBC của Heghen, lọc bỏ những yếu tố duy tâm và đặt nó trên cơ sở TGQDV. Đồng thời Mác kế thừa quan điểm duy vật của PhơBách. Như vậy PBCDV của M và AG là sự thống nhất về thế giới quan điểm DVvà BC. PBC đòi hỏi khi nhận xét các SVHT thì đặt chúng trong sự vận động, biến đổi và phát triển, từ đó có cách nhìn đúng đắn về chúng.
c. Quan niệm duy vật về lịch sử.

- Thành tựu to lớn, vĩ đại nhất của Mác: Đánh dấu cột mốc triết học trong lịch sử, làm cho CNDV triệt để dựa trên 2 phát kiến: Quan niệm duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư.
- Với sự ra đời của CNDVBC thì “CNDV bị lấy ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó” (Anghen).
- Mác đã tổng kết lịch sử dựa vào sự kế thừa tư tưởng nhân loại trong quan điểm về xã hội đồng thời với việc khái quát thực tiễn mới. Do vậy trong đánh giá Lênin noí: “Cùng với học thuyết giá trị thặng dư, quan niệm DVLS đã mang lại cho loài người nhận thức vĩ đại mà còn là công cụ cải tại thế giới.
d. Tính khoa học và tính cách mạng.

* Tính khoa học.

- Phản ảnh đúng đắn bản chất SVHT, kế thừa những tinh hoa của lịch sử triết học nhân loại nói chung và của Phương Đông, Phương Tây cổ đại và triết học cổ điển Đức và được chứng minh bằng những thành tựu của KH-KT hiện nay. đặc biệt khoa học tự nhiên (thế kỷ 19) + 3 thành tựu KH: Thuyết tiến hoá (Đắcuynh), Thuyết tế bào và định luật bảo toàn năng lượng.
- Bên cạnh đó vào những năm 40 của thế kỷ 19, Mác đã khái quát lên thành điều kiện xã hội
2. CNDVBC phản ảnh đúng đắn bản chất và các quy luật của TG, điều này đã được KH và thực tiễn CM kiểm nghiệm.
3. Giá trị luận: Là cơ sở TGQ, PPL, giải thích luận, đặt hướng cho sự phát triển các giá trị KH khác nhau.
* Tính Cách mạng.

Không chỉ dừng lại ở sự giải thích TG mà còn nhận thức và cải tạo TG, cải tạo con người. Căn cứ vào thực tiễn cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới vì con người, hướng con người vào cái mới, cái tốt đẹp hơn. Đó là PPL phổ biến định hưóng và phát triển xã hội, là vũ khí tinh thần cho GCCN và NDLĐ trên TG trong cuộc đấu tranh giải phóng GCCN, giải phóng con người, giải phóng toàn xã hội. Đó là hệ thống mở luôn được bổ sung bằng những thành tựu của KH và thực tiễn xã hội.
Biểu hiện của sự thống nhất của tính Cách mạng và tính khoa học: tính Cách mạng và tính khoa học bao hàm nhau. Tính CM càng cao thì tính KH càng thực tiễn.
+ Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
:
PBCDV thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. trong đó tính thực tiễn là cơ sở của lý luận và lý luận định hướng cho thực tiễn.
Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nguyên tắc khoa học và cách mạng. Tức là phải coi trọng lý luận và không được cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Hồ Chí Minh nói” Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Chủ nghĩa Mác-Lênin là tiêu chuẩn của sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển.
+ Tính sáng tạo trong PBCDV:
PBCDV là hình thức mở, luôn luôn đổi mới, bổ sung bởi những thành tựu mới của xã hội. Từ Mác, Ăngghen, Lênin không chỉ đổi mới, bổ sung mà còn vận dụng nó vào trong nhận thực và thực tiển. Nó luôn vận dụng vào những thành tựu khoa học và thực tiễn.
Với những đặc điểm trên đây làm cho PBCDV trở thành phương pháp luận phổ biến. Nó đã loại bỏ những hạn chế các quan điểm của các nhà triết học trước đó và phát triển lên nên trở thành hoàn bị nhất, sâu sắc nhất.
* Bồi dưỡng TGQ Khoa học.

1. Giải quyết đúng đắn giữa mối quan hệ Vật chất - ý thức.

Trước hết phải phân tích được mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Vật chất có trước, ý thức tác động trở lại ý thức.
Áp dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta không được tuyệt đối hóa vật chất - ý thức Nhân tố vật chất trong đời sống xã hội biểu hiện bằng nhân tố ý thức đó là điều kiện về vật chất, hoàn cảnh sống, quy luật khách quan, ,khả năng khách quan
Nhân tố ý thưc: quan điểm, đường lối, lý luận, chủ trương, chính sách, mục tiêu, phương pháp, biện pháp, giải pháp….
Nhận thức hoạt động thực tiễn hiệu quả: cần thống nhất điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan (Không đỗ lỗi cho ĐKKQ hay nhân tố chủ quan).
Thời bao cấp, vừa ra khỏi chiến tranh, các yếu kém được quy cho “hậu quả của chiến tranh”. Thời cơ chế thị trường, các yếu kém, nhất là nạn tham nhũng, được đổ lỗi cho “mặt trái của cơ chế thị trường”. Chúng ta không được đỗ lỗi cho nhân tố khách quan, mà chúng ta cần xem lại về quan điểm, chủ trương, cách điều hành xã hội.
Liên hệ:
Hiện nay trong các công sở nhà nước, cán bộ công chức được giao chức trách khi làm việc, thiếu sót bất cẩn, làm chậm trễ hay kết quả công việc không như mong muốn thường đỗ lỗi cho khách quan. Họ thường tìm đủ lí do để chứng minh: Tôi đã từng nghe đối thoại của một phóng viên: “Bài báo cáo nộp trễ không phải do tôi; là do mạng máy tính trục trặc, chuyên viên thông tin phải chịu trách nhiệm; Các lỗi chính tả còn sót lại trong các bài quảng cáo mà cô chịu trách nhiệm, là vì cô đã sửa nhưng người phụ trách thiết kế sửa sót; Những thông tin sai lệch mà cô cung cấp cho khách hàng là do bộ phận chăm sóc khách hàng đã không cung cấp đủ và rõ ràng. Và rồi những lần sau những sai sót như vậy lại tiếp diễn. Rõ ràng là phóng viên đó biết mình sai nhưng cứ đỗ lỗi cho khách quan.
2. Tôn trọng nguyên tắc khách quan của sự xem xét.

- Khi xem xét các SVHT cần phải xem xét từ chính nó chứ không phải áp đặt tính chủ quan của mình vào SVHT.
- Trong hoạt động thực tiễn cần xem xét từ thực tế, cần tôn trọng và hành động theo các quy luật KQ.
3. Phát huy tính năng động, chủ quan.
- Cần quan tâm đến tính tích cực năng động, sáng tạo của ý thức, bởi vì: Ý thức tác động trở lại vật chất.
- Phát huy những yếu tồ trong kết cấu của ý thức, bồi dưỡng ý thức. Đó là:
+ Tri thức: Học tập và nâng cao trình độ kiến thức, tiếp cận khoa học. vận dụng vào thực tiễn
4. Khắc phục ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí. (Chú ý chủ nghĩa chủ quan)
“Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm kép, trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủ nghĩa chủ quan, lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện khuynh hướng tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể trong quan niệm và hành động, phủ nhận hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật của thế giới vật chất, của hiện thực khách quan".
Thực chất của căn bệnh này là, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, người ta tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan, xa rời hiện thực khách quan, coi thường các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí. Nếu vận dụng nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để xem xét thì rõ ràng, bệnh chủ quan duy ý chí là kết quả nếu không nói là tất cả của những điều kiện sinh hoạt vật chất - xã hội, cụ thể là của trình độ phát triển thấp kém về kinh tế. Đó chính là nguyên nhân của những nguyên nhân sau đây:
Bệnh chủ quan duy ý chí là sự thể hiện về trình độ văn hoá, khoa học của chủ thể nhận thức có thể khẳng định rằng, ở một mức độ nào đó, người ta không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá, khoa học chưa đạt đến một chuẩn mực cần có. Vì vậy, sự yếu kém về trình độ văn hoá, khoa học sẽ tất yếu dẫn đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí.
Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường xuyên chủ động nâng cạo năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm cả quá trình học tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). Về điểm này, Engen đã từng khẳng định: "Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta. Năng lực ấy cần phái được phát triển hoàn thiện... Vì vậy, để khắc phục tình trạng yếu kém đó, cách trước tiên và chủ yếu là phải học tập, rèn luyện lý luận. của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Tựu trung, bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng. Do đó, Lênin đã gọi căn bệnh này "là sự mù quáng chủ quan", là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. Về lý luận, bệnh chủ quan duy ý chí có nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm mống cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức. Song là một loại bệnh "ấu trĩ tả khuynh" nên nó vẫn có khả năng được ngăn ngừa và loại bỏ.
Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cách mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu bị sự can thiệp, áp đặt của ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước mà trước mắt cũng như lâu dài, hậu quả của nó khó có thể lường trước được. Về vấn đề này, V.I.Lênin đã cảnh báo: "Đối với một chính Đảng vô sản, không sai lầm nào nguy là nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. Định ra một sách lược vô sản nói trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại".
Có thể sau khi chủ trương, đường lối bị thất bại do bệnh chủ quan gây nên, những người hoạch định chúng sớm nhận ra sai lầm, do đó chúng có thể được khắc phục, sửa chữa cho phù hợp với quy luật khách quan và yêu cầu của thực tiễn. Nhưng cũng có thể xảy ra các tình trạng sau đây: 1) không nhận thức được nguồn gốc sai lầm về mặt tư duy, nhận thức, 2) nhận thức được nguồn gốc sai lầm đó nhưng chậm được sửa chữa, khắc phục.
Trong trường hợp thứ hai, ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức, trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục, sửa chữa, sai lầm, theo chúng tôi, còn có nguyên nhân chủ quan khác. Đó là, do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm, sai lầm chủ quan, tìm cách thuyết minh cho "sự sáng tạo hợp quy luật" hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác, hoặc cho nguyên nhân khách quan... Trong tình hình đó, thay cho việc tìm cách khắc phục sai lầm thì có thể là thái độ thờ ơ, chờ đợi sự may rủi... và do đó, sai lầm càng trở nên nghiêm trọng.
Như vậy, nguyên nhân lẫn trong hậu quả. Bệnh chủ quan duy ý chí còn dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính, hình thức chủ nghĩa, bệnh gia trưởng độc đoán chuyên quyền, ban phát đặc ân, tệ sùng bái cá nhân, tham ô, lãng phí, coi thường người lao động...
Ở Việt Nam, trong thời kỳ xây dựng CHXH trước đây, chúng ta cũng đã mắc phải căn bệnh này. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ, chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có, vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo, phát triển kinh tế, và do đó, dẫn đến việc đề ra những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triền sản xuất. Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, chúng ta đã không có được một đường lối, chính sách phát triển kinh tế thận trọng và khoa học dẫn đường. Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét, trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật.
Là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức, trình độ lý luận mà còn là sản phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài, đến lượt nó, bệnh chủ quan duy ý chí trở thành một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị đình đốn, sa sút. Do vậy, quá trình khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ nhận thức, trình độ lý luận, trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật với việc đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế.
Chừng nào căn bệnh này chưa được khắc phục triệt để thì nó sẽ còn gắn kết chặt chẽ với bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển đất nước.