X

Loading
Kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

  1. Chuyên viên
    Bắt đầu vào 15-11-2009, 11:20 PM
    Đã viết: 169 bài thảo luận
    Hoa Dã Quỳ is offline
    83285 lượt xem
    #1

    Yeh Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm, ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời giống như mọi phạm trú khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người với sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên.
    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại một cách vĩnh cữu tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng. Vào thời cổ đại các Triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình, đang tồn tại ở thế giới bên ngoài.
    Ở Trung Hoa cổ đại, các nhà duy vật coi khí là thực thể của thế giới, ở Ấn độ cổ đại phái Nyaya coi nguyên tử là thực thể của thế giới, ở Hy lạp cổ đại Talet coi thực thể của thế giới là nước, Anaximen coi thực thể ấy là khí còn Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quan điểm thực thể thế giới là một chất cụ thể, coi thực thể thế giới là 4 chất Đất, nước, lửa, không khí. Anaximadrơ cho rằng thực thể của thế giới là một bản nguyên không xác định về chất và vô cùng, vô tận về mặt lượng, đó là aperôn. Đỉnh cao của thuyết duy vật cổ đại về vật chất đó là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrít. Nguyên tử là các phần cực nhỏ, cứng, không thể xâm nhập, không cảm giác được, nguyên tử có thể nhận biết bằng tư duy. Còn các nhà duy tâm thì cho rằng (Platon) Vật chất là cái không tồn tại, tồn tại là cái phi vật chất, bản nguyên của tinh thần siêu nhiên.
    Thời kỳ phục hưng đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ thư 17 - 18, vật chất được đồng nhất với vật thể, với nguyên tử hay ête, sự thống trị của quan điểm máy móc, siêu hình về vận động của vật chất. Thời kỳ này trong chủ nghĩa duy tâm đáng kể nhất là Becơli, Hium.., Becơli tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể nhận thức tuyên bố "tồn tại nghĩa là được tri giác"
    Từ nữa thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 trung tâm Triết học chuyển từ Anh và Pháp sang Đức, tại đây chủ nghĩa duy tâm thống trị. Hêghen - nhà duy tâm điển hình xem toàn bộ thế giới tự nhiên, thực tiễn chỉ là sự biểu hiện, sự triển khai ý niệm hay tinh thần tuyệt đối..
    Sự khủng hoảng của thế giới quan trong vật lý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sự ra đời của chủ nghĩa duy tâm vật lý học, quan niệm duy tâm - bất khả tri về cái gọi là "vật chất biến mất."
    Định nghĩa vật chất của Lênin trong tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán. V.I. Lênin đã định nghĩa "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ một thực tại khách quan được đem lại co con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác".
    Lập luận của Lênin khẳng định vật chất không biến mất, chỉ có quan niệm cũ xưa lỗi thời về vật chất là không còn phù hợp nữa, cần có một cách hiểu mới về phạm trù vật chất trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học và nhận thức.
    Vật chất là một phạm trù Triết học bởi vì đó là sự xác định "góc độ" của việc xem xét để tránh nhầm lẫn giữa quan niệm của Triết học về bản chất của vật chất với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu trúc và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng vật chất khác nhau.
    Với tư cách là một phạm trù Triết học, phạm trù vật chất phải thể hiện thế giới khách quan và hướng đến sự giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại.
    Vật chất là một phạm trù rộng lớn nhất nên không thể định nghĩa bằng cách thông thường trong logic học, đem quy khái niệm cần định nghĩa về khái niệm rộng hơn. Vật chất chỉ có thể định nghĩa bằng cách đặt nó trong quan hệ đối lập với ý thức, xem cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào.
    Vật chất là thực tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức con người. Vật chất là vô cùng vô tận, nó có vô vàn các thuộc tính khác nhau rất đa dạng và phong phú mà khoa học ngày càng phát triển thì càng tìm ra, phát hiện thêm những thuộc tính mới của nó. Trong tất cả các thuộc tính của vật chất thì thuộc tính thực tại khách quan, tức là sự tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người là thuộc tính chung, vĩnh hằng với mọi dạng, mọi đối tượng khác nhau của vật chất, chính vì vậy V.I Lênin xem thực tại khách quan là thuộc tính duy nhất của vật chất.
    Thuộc tính tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống xã hội. Tất cả những cái gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người đều là những dạng khác nhau của vật chất. Ví dụ: những quan hệ kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất của xã hội... tuy khôngtồn tại dưới dạng vật thể, cũng không mang thuộc tính khối lượng, năng lượng, cũng không có cấu trúc phân tử, nguyên tử những chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức, bởi vậy chúng chính là vật chất dưới dạng xã hội. Thuộc tính này cũng là tiêu chuẩn để khẳng định thế giới vật chất có tồn tại thật sự, tồn tại do chính nó hay không. Bởi vậy thuộc tính đó là cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm.
    Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại chụp lại, phản ánh nghĩa là vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính. Khi vất chất tác động lên các giác quan của con người thì gây ra cảm giác ở con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó, như vậy khả năng nhận thức của con người đối với vật chất chính là xuất phát từ thuộc tính tồn tại cảm tính tức là sự tồn tại của bản thân vật chất.
    Bởi vậy về nguyên tắc đối với vật chất, thì chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứ không thể có cái con người không thể nhận thức được. Đó chính là cơ sở để khoa học đấu tranh chống lại "thuyết không thể biết"
    Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác tức lànó là nguồn gốc, nguyên nhân của cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức. Còn cảm giác hay ý thức là sự chép lại chụp lại, phản ánh, nó có sau so với vật chất. Rõ ràng vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức.
    Định nghĩa vật chất của Lênin khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan niệm vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa lịch sử. Định nghĩa này cũng chính cơ sở khoa học và là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, cả duy tâm khách quan lẫn duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả để đảm bảo sự đứng vững cho chủ nghĩa duy vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên.
    Định nghĩa vật chất của Lênin cũng trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các nhà khoa học nghiên cứu thế giới vật chất, động viên cổ vũ họ tin ở khả năng nhận thức của con người, tiếp tục đi sâu, khám phá những thuộc tính mới của vật chất. Do vậy, định nghĩa này đã có tác dụng đưa khoa học tự nhiên và nhất là vật lý học thoát khỏi khủng hoảng vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 để tiếp tục tiến lên. Cho đến nay, mặc dù khoa học đã tiến lên một bước rất dài so với định nghĩa vật chất của Lênin (được viết trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán được Lênin viết năm 1908 và xuất bản năm 1909) nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị . Định nghĩa này vẫn là tiêu chuẩn để phân biệt thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.

    Thân gửi: TRẦN QUỐC ĐOÀN- Học viện Cảnh sát Nhân dân ( Đề nghị các thành viên BQT không chỉnh sửa).
    Thân: Quyết Thắng
  2. 08-04-2010, 11:55 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 08-04-2010, 11:55 PM
    Bài viết: 2
    tran thi linh is offline
    #2

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    Mình đọc viết của bạn rất hay ,minh cam ơn ban nhiều nhiều
  3. 15-03-2011, 09:41 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 15-03-2011, 09:41 PM
    Bài viết: 1
    chuotvip is offline
    #3

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    em có mấy câu hỏi chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp sắp tới mà em ko biết là thế nào đây mong anh chị nào chỉ dumg em với. em cảm ơn nhìu..
    câi 1:
    Làm rỏ nội dung ý nghĩa , định nghĩa phạm trù vật chất mác lênin:
    câu 2:
    Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. tù đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó?
    câu 3:
    Trình bày nội dung. ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
    c4:
    phân tích nội dung. ý nghĩa quy luật tù những thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại?
    câu 5:
    Thực tiển là gì? làm rỏ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
    nếu anh chị nào có câu trả lời thì gửi qua mail cho em. huutho1991@gmail.com em cảm ơn nhìu lắm
  4. 16-05-2011, 06:14 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 16-05-2011, 06:14 AM
    Bài viết: 2
    heraclit is offline
    #4

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    Để bổ sung cho bài viết của HDQ tôi xin chú thích thêm: Để tránh mỏi mắt khi đọc trên màn hình lâu, và hiểu đúng ý nghĩa các bạn nên đọc nguyên bản:
    Định Nghĩa vật chất của Vladimir Ilyich Lenin trong giáo trình triết học Mac- Lenin (xb 2007) của bộ giáo dục và đào tạo trang 151. Thành thật ko có ý nói rằng HDQ copy, bởi bài viết hay và dễ hiểu, mong muốn đóng góp cho SV. Nhưng mình đọc thấy nhiều điều không đúng với ý nghĩa của tư tưởng, nên giới thiệu nguyên tác cho mọi người cùng so sánh.
    Trân trọng
  5. 28-01-2012, 01:49 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 28-01-2012, 01:49 PM
    Bài viết: 2
    thienan93 is offline
    #5

    Cool Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    [/COLOR]
    Trích Nguyên văn bởi chuotvip View Post
    em có mấy câu hỏi chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp sắp tới mà em ko biết là thế nào đây mong anh chị nào chỉ dumg em với. em cảm ơn nhìu..
    câi 1:
    Làm rỏ nội dung ý nghĩa , định nghĩa phạm trù vật chất mác lênin:
    câu 2:
    Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. tù đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nó?
    câu 3:
    Trình bày nội dung. ý nghĩa của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
    c4:
    phân tích nội dung. ý nghĩa quy luật tù những thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại?
    câu 5:
    Thực tiển là gì? làm rỏ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
    nếu anh chị nào có câu trả lời thì gửi qua mail cho em. huutho1991@gmail.com em cảm ơn nhìu lắm
    Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ này.
    a) Vai trò quy định của vật chất đối với ý thức.
    - Vật chất là cái thứ nhất, ý thức là cái thứ hai, nghĩa là vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; Vật chất quy định ý thức cả về nội dung phản ánh lẫn hình thức biểu hiện. Điều này thể hiện ở:
    + Vật chất sinh ra ý thức (ý thức là sản phẩm của não người; ý thức có thuộc tính phản ánh của vật chất)
    +) Vật chất quyết định nội dung của ý thức (ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất; nội dung của ý thức (kể cả tình cảm, ý chí v.v) đều xuất phát từ vật chất; sự sáng tạo của ý thức đòi hỏi những tiền đề vật chất và tuân theo các quy luật của vật chất).
    - Tồn tại xã hội (một hình thức vật chất đặc biệt trong lĩnh vực xã hội) quy định ý thức xã hội (một hình thức ý thức đặc biệt trong lĩnh vực xã hội).
    - Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người trong dạng hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan; hình thức biểu hiện của ý thức là ngôn ngữ (một dạng cụ thể của vật chất).
    b) Vai trò tác động ngược trở lại của ý thức đối với vật chất.
    - Sự tác động của ý thức đối với vật chất có thể theo hướng tích cực (khai thác, phát huy, thúc đẩy được sức mạnh vật chất tiềm tàng hoặc những biến đổi của điều kiện, hoàn cảnh vật chất theo hướng có lợi cho con người) thể hiện qua việc ý thức chỉ đạo con người trong hoạt động thực tiễn. Sự chỉ đạo đó xuất hiện ngay từ lúc con người xác định đối tượng, mục tiêu, phương hướng và phương pháp thực hiện những mục tiêu đề ra. Trong giai đoạn này, ý thức trang bị cho con người những thông tin cần thiết về đối tượng, về các quy luật khách quan và hướng dẫn con người phân tích, lựa chọn những khả năng vận dụng những những quy luật đó trong hành động. Như vậy, ý thức hướng dẫn hoạt động của con người và thông qua các hoạt động thực tiễn của con người mà tác động gián tiếp lên thực tại khách quan.
    - Sự tác động ngược lại của ý thức đối với vật chất có thể theo hướng tiêu cực, trước hết do sự phản ánh không đầy đủ về thế giới đó dẫn đến những sai lầm, duy ý chí thể hiện qua việc ý thức có thể kìm hãm sức mạnh cải tạo hiện thực thực khách quan của con người, nhất là trong lĩnh vực xã hội (làm suy giảm, hao tổn sức mạnh vật chất tiềm tàng, kìm hãm quá trình phát triển kinh tế-xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người).

     Như vậy, bản thân ý thức không trực tiếp thay đổi được hiện thực mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Sức mạnh của ý thức tùy thuộc vào mức độ thâm nhập của ý thức vào hành động, vào các điều kiện vật chất, vào hoàn cảnh vật chất mà trong đó ý thức được thực hiện. Muốn biến đổi và cải tạo thế giới khách quan, ý thức phải được con người thực hiện trong thực.
    c) Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất với ý thức.
    - Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, CNDVBC xây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.Theo nguyên tắc này: trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ có thể đúng đắn thành công và hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan với phát huy tính năng động chủ quan; phát huy tính năng động chủ quan là phải trên cơ sở và trong phạm vi điều kiện khách quan, chống chủ quan duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn.


    Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quy luật này.
    a) Vị trí, vai trò.
    - Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là “hạt nhân” của phép biện chứng.
    - Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển.
    b) Khái niệm và các tính chất của mâu thuẫn.
    • Các khái niệm.
    - Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau.Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có đồng hoá và dị hoá; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền..v..v.. Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập.
    - Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
    - Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sinh vật.
    - Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng, thực chất của mâu thuẫn là mối liên hệ giữa hai mặt đối lập.
    • Các tính chất chung của mâu thuẫn.
    - Mâu thuẫn có tính khách quan và phổ biến.
    - Mâu thuẫn có tính đa dạng và phong phú. Tính đa dạng và phong phú biểu hiện ở chỗ trong mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau trong sự vận động và phát triển của sự vật. Đó là: mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng,…
    c) Quá trình vận động của mâu thuẫn.
    - Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
    - Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập chỉ mang tính tương đối,tạm thời vì nó gắn liền với trạng thái đứng yên.
    - Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau.
    - Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
    - Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó có nghĩa là: sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời ; sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất(…) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
    - Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyễn hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới ; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế. V.I. Lênin viết: “ Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.
    d) Ý nghĩa phương pháp luận
    - Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
    - Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng. Chỉ có như thế mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động, phát triển và điều kiện để giải quyết mâu thuẫn.
    - Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn.Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn. Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi điều kiện đã chín muồi. Một mặt phải chống thái độ chủ quan, nóng vội; mặt khác phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chin muồi. Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.


    Quy luật từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quy luật này.

    a) Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật.
    - Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
    - Quy luật về sự chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
    b) Nội dung quy luật.
    • Các khái niệm:
    - Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng làm cho chúng là chúng mà không phải là cái khác.
    - Chất có đặc điểm cơ bản:
    + Biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng, nghĩa là khi sự vật, hiện tượng này chưa chuyển hoá thành sự vật, hiện tượng khác thì chất của nó chưa thay đổi.
    + Mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, sự vật, hiện tượng lại có chất riêng ở giai đoạn đó.
    + Mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất.
    - Lượng dung để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của quá trình vận động, phát triển của sư vật.
    + Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật.
    • Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất.
    - Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt lượng và chất. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
    - Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về lượng, tuy nhiên không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất.
    - Ở một giới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về lượng. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất được gọi là độ.
    - Độ chỉ tính quy định, môi 1iên hệ thống nhất giữa chất và lượng. Vì vậy trong giới hạn của độ sự vật hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật hiện tượng khác.
    - Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi chất. Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Đây chính là bước nhảy.
    - Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận động và phát triển; đồng thới đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển lien tục của sự vật hiện tượng.
     Tóm lại: Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động ngược lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật. Quá trình đó lien tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vât, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
    c) Ý nghĩa phương pháp luận.
    - Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải coi trọng cả hai chỉ tiêu về phương diện lượng và chất của sự vật, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật.
    - Sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần về lượng đến một giới hạn nhất định sẽ thực hiện bước nhảy để chuyển hoá về chất. Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất.
    - Khi đã tích luỹ đầy đủ về lượng phải quyết tâm tiến hành bước nhảy, kịp thời chuyển những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất; chuyển những thay đổi mang tính tiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng. Chỉ có như vậy mới khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh thường biểu hiện ở chỗ coi sự phát triển chỉ là thay đổi đơn thuần về lượng.
    - Trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh, bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.



    Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đối với nhận thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vấn đề này.

    a) Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn.
    - Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử-xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Thực tiễn là hoạt động khi con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình. Là hoạt động đặc trưng của bản chất con người, thực tiễn không ngừng phát triển bởi các thế hệ của loài người qua các quá trình lịch sử.
    - Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản:
    + Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản, đầu tiên và quan trọng nhất của thực tiễn; là cơ sở vật chất cho các loại hoạt động khác của con người. Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình.
    + Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị - xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển.
    + Thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn. Dạng hoạt động này có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
    b) Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
    - Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức. Sỡ dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức, nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và phát triễn của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cả tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình. Từ sự tác đông này chính là cơ sở để hình thành nên các lý thuyết khoa học.
    - Thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Điều này có nghĩa có nghĩa thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã được trong nhận thức. Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
    c) Ý nghĩa phương pháp luận.
    - Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức yêu cầu chúng ta trong việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn.
    - Việc nghiên cứu lý luận phải lien hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu. Ngược lại nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa.
    - Nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận; lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của nó thì nó chỉ là lý luận suông. Ngược lại, thực tiễn mà không có lý luận khoa học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biến thành thực tiễn mù quáng.
    Chỉnh sửa: thienan93, 28-01-2012 lúc 01:51 PM
  6. 10-04-2012, 01:18 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 10-04-2012, 01:18 PM
    Bài viết: 3
    ducquangthanhhu is offline
    #6

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    moi hoc xong len doc them cai nay hieu ra nhieu dieu qua ah nha ^^!
  7. 10-05-2012, 03:40 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 10-05-2012, 03:40 PM
    Bài viết: 1
    trongthang is offline
    #7

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    ghet nha't mo^n nay, nan? lam' la nan? thoi
  8. 12-05-2012, 12:37 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 12-05-2012, 12:37 AM
    Bài viết: 3
    qngtc is offline
    #8

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    Khi hiện thực không như những gì mình mong muốn,hãy tìm cách thay đổi hiện tại và kiên định với mục tiêu của mình...
  9. 26-09-2012, 02:47 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 26-09-2012, 02:47 PM
    Bài viết: 1
    cuzin is offline
    #9

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    cho em hỏi tí(mong anh chi va các ban giải đáp dùm thanks): Tại sao vật chất không mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác??/
  10. 20-11-2012, 10:29 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 20-11-2012, 10:29 AM
    Bài viết: 1
    bboyredlion is offline
    #10

    Default Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.

    bạn ơi có thể up câu ý nghĩa của chủ nghĩa Mác đựoc không bạn
    có gì bạn liên hệ SDT của mình nha 0973558177
    thanks !!

Tags:

None