X

Loading
Kết quả từ 1 tới 11 trên 11

Vai trò của pháp luật

  1. Cán sự
    Bắt đầu vào 10-11-2010, 08:31 PM
    Đã viết: 1 bài thảo luận
    icesnail is offline
    63332 lượt xem
    #1

    Question Vai trò của pháp luật

    Mấy anh chị dân luật giúp em với. E có câu hỏi làm bài tập là "với hiểu biết của mình hãy phân tích vai trò của Pháp luật" (có VD thì càng tốt). giúp em với. Mong admin đừng xóa bài của em.
  2. 11-11-2010, 06:33 PM
    Quản lý Diễn đàn
    Bắt đầu vào 11-11-2010, 06:33 PM
    Bài viết: 1,360
    alias_apa is offline
    #2

    Thong bao Vai trò của pháp luật

    Theo mình nghĩ thì vai trò của pháp luật chính là chức năng của pháp luật.
    Chức năng của pháp luật là những phương tiện,mặt hoạt động chủ yếu của pháp luật,thể hiện bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật.

    Chức năng điều chỉnh của pháp luật : thể hiện hai mặt
    - Pháp luật ghi nhận các quan hệ chủ yếu trong xã hội.
    - Pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội.

    Chức năng giáo dục của pháp luật : pháp luật tác động vào ý thức và tâm lý của con người, từ đó con người lựa chọn cách xử sự phù hợp với quy định của pháp luật.

    Chức năng bảo vệ của pháp luật : pháp luật bảo vệ lợi ích của nhà nước,của xã hội và mỗi cá nhân.
    VÌ MỘT NỀN HÀNH CHÍNH PHÁT TRIỂN
  3. 12-11-2010, 04:43 AM
    Nguyên Ban Quản Trị
    Bắt đầu vào 12-11-2010, 04:43 AM
    Bài viết: 331
    phuongtocxu is offline
    #3

    Default Vai trò của pháp luật

    Trích Nguyên văn bởi icesnail View Post
    Mấy anh chị dân luật giúp em với. E có câu hỏi làm bài tập là "với hiểu biết của mình hãy phân tích vai trò của Pháp luật" (có VD thì càng tốt). giúp em với. Mong admin đừng xóa bài của em.
    Pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước đặt ra và được bảo đảm thi hành bằng các tổ chức, biện pháp mang tính chất nhà nước. Pháp luật của mỗi xã hội đều thể hiện ý chí chính trị của giai cấp thống trị, đòi hỏi phải phù hợp với cơ sở hạ tầng xã hội đó là yếu tố điều chỉnh mang tính chất bắt buộc chung đối với các quan hệ xã hội.
    Theo mình thì pháp luật có một số vai trò chính như thế này:
    - Là phương tiện thể hiện đường lối chính sách của Nhà nước;
    - Là công cụ quyền lực của quản lý nhà nước;
    - Thể chế hóa và bảo vệ quyền làm chủ của giai cấp.
    Để kỹ hơn, mình nghĩ bạn nên phân tích cụ thể vai trò của pháp luật đối với các mặt như kinh tế, đời sống xã hội, đạo đức,....... chẳng hạn.
  4. 12-11-2010, 10:16 AM
    Quản lý Diễn đàn
    Bắt đầu vào 12-11-2010, 10:16 AM
    Bài viết: 1,360
    alias_apa is offline
    #4

    Default Vai trò của pháp luật

    ủa em có trả lời bạn sai gì không chị Phương?
    VÌ MỘT NỀN HÀNH CHÍNH PHÁT TRIỂN
  5. 19-04-2011, 08:26 AM
    Quản lý Diễn đàn
    Bắt đầu vào 19-04-2011, 08:26 AM
    Bài viết: 1,154
    dungdng is offline
    #5

    Default Vai trò của pháp luật

    Nếu muốn tìm hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật (vai trò khác với chức năng). Các bạn nên tìm đọc cuốn sách "Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội' của TS Nguyễn Minh Đoan - Giám đốc trung tâm nghiên cứu pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, trường đại học Luật Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia tháng 6/1008.
    Quyển sách viết khá rõ ràng, dễ hiểu và có nhiều nội dung rất hay về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội:
    I. Pháp luật - công cụ quản lý xã hội không thể thiếu
    II. Pháp luật - công cụ quản lý xã hội quan trọng
    III. Pháp luật - công cụ quản lý xã hội hiệu quả
    IV. Pháp luật - không phải công cụ quản lý xã hội vạn năng
    ...........
    Tôi rất thích làm việc với những người giỏi hơn tôi
    Đơn giản vì họ cho tôi cảm giác mình còn phải nỗ lực rất nhiều

    ------------------------
    *
    Ngô Quốc Dũng - HVHC.15H

    * Huyện Hòa Vang - Tp. Đà Nẵng
    * Email: dungdng@hanhchinh.com.vn
    * Phone: -84-905.666.319


  6. 06-08-2011, 09:36 AM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 06-08-2011, 09:36 AM
    Bài viết: 1
    hoang is offline
    #6

    Default Vai trò của pháp luật

    Em muốn hoi mấy anh chị vài việc:
    Pháp luật sẽ xử lý như thế nào về việc vay tiền của người khác mà không trả lại số tiền cũng lớn. Có phải là chỉ xử phạt tù chứ không dền bù thiệt hại cho người khác phải không ạ?
  7. 06-08-2011, 10:43 AM
    Chuyên viên cao cấp
    Bắt đầu vào 06-08-2011, 10:43 AM
    Bài viết: 2,107
    hoangtunapa90 is offline
    #7

    Default Vai trò của pháp luật

    hì chào bạn theo quy định của luật thì hành vi vay tiền của người khác mà không trả được xếp vào hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy hành vi đã sẽ bị xử phạt tù và bồi thường thiệt hại số tiến đã vay cộng với lại theo quy định của ngân hàng và chịu một khoản lệ phí
    "Học làm việc,làm người, làm cán bộ"
  8. 16-10-2011, 09:33 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 16-10-2011, 09:33 PM
    Bài viết: 2
    chuhai3000 is offline
    #8

    Default Vai trò của pháp luật

    Câu 1: Nhà nước pháp quyền là gì? Đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN.
    Nhà nước pháp quyền XHCN: là nhà nước thực sự của dân do dân vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân do đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
    Đặc trưng của nhà nước pháp quyền: (7 đặc trưng)
    - Là nhà nước thực sự của dân do dân vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
    - Là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người.
    - Là nhà nước được xây dựng, tổ chức và thực hiện hoạt động trên cơ sở hiến pháp và pháp luật.
    - Là nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp.
    - Là nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình.
    - Là nhà nước do đảng cộng sản việt nam lãnh đạo.
    - Là nhà nước tôn trọng và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế mà việt nam đã tham gia hoặc ký kết.
    Tại sao nước ta phải xây dựng NN pháp quyền XHCN? Phương hướng hoàn thiện bộ máy NN ta theo hướng NN pháp quyền.
    Tại sao phải XD NN pháp quyền XHCN: - Quá trình xây dựng và tăng cường Nhà nước trong mấy chục năm qua cho thấy, hàng loạt vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Nhà nước vẫn chưa được tổng kết, làm rõ. Do vậy, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước được triển khai trong nhiều giai đoạn lịch sử vẫn chưa đưa lại các kết quả mong muốn. Sự bất cập trong tổ chức bộ máy Nhà nước và cơ chế vận hành của bộ máy này đang cản trở việc phát huy vai trò của Nhà nước ta trong cơ chế kinh tế mới. Nhận thức lý luận về chế độ pháp quyền trong hoạt động Nhà nước và xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển và do vậy chưa tạo lập được các cơ sở khoa học vững chắc cho việc tìm kiếm các giải pháp cải cách thực tiễn đối với đời sống Nhà nước. Chính vì thế, sự nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền đang là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.
    - XD NNPQXHCN là xu hướng tất yếu của nước ta, - kế thừ và phát huy T2 về NNPQ trong LS đặc biệt là theo CN mác-lênin T2 HCM. – để phat huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của ND, tránh sự lộng quyền, lạm quyền từ phía CQNN, đảm bảo tất cả quyền QLNN thuộc về ND. – khắc phục sự yếu kém của BMNN. – một số bộ phận không nhỏ CBCC chưa tương xứng với nhiệm vụ. – tệ nạn tham nhũng, quan liêu, lãng phí còn diễn biến phức tạp gây mất lòng tin cho nhân dân -> XDNNPQ nhằm khắc phục các tệ nạn này.-
    Phương hướng:
    - Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    - Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Tăng cường công tác giám sát của quốc hội, tiếp tục phát huy dân chủ, tính công khai, đối thoại trong thảo luận, hoạt động chất vấn tại diễn đàn Quốc hội.
    - Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức tinh gọn và hợp lý; tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của Chính phủ.
    - đổi mới tổ chức hoạt động HĐND, UBND: nâng cao chất lượng h.động của HĐND, UBND bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi đc phân cấp. phát huy vai trò giám sát của HĐND. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.
    - Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách. Đẩy mạnh xã hội hoá các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    - Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
    - Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
    - phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý NN và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, cơ quan và tổ chức NN.
    - Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí.


    Câu 2: phân tích vai trò của pháp luật đối với hoạt động quản lý NN?
    Trước hết cần khảng định pháp luật có rất nhiều vai trò. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý khi đề cập đến vai trò của pháp luật người ta thường đề cập đến các vai trò sau đây:
    Vai trò của pháp luật đối với kinh tế: Đối với kinh tế pháp luật có vai trò rất quan trong thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:- Pháp luật tao ra các khung pháp lý để cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế tiến hành hoạt động quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý vĩ mô nền kinh tế. Đồng thời, cũng là cở sở để cho các chủ thể sản xuất kinh doanh căn cứ vào đó để hoạt động. - Pháp luật là công cụ hữu hiệu giúp cho nhà nước khắc phục được các nhược điểm của nền kinh tế thị trường, tạo ra sự công bằng xã hội. - Pháp luật là công cụ giúp nhà nước giải quyết có hiệu quả các tranh chấp kinh tế nảy sinh trong nền kinh tế thị trường.
    Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội: Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội, vì vậy, nhà nước có chức năng quản lý xã hội. Đối với nhà nước pháp luật có các vai trò sau đây: - Pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô rộng lớn nhất. - Pháp luật là công cụ để cho nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân. - Pháp luật là công cụ để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức.
    Vai trò của pháp luật đối với hệ thống chính trị: Thứ nhất, đối với nhà nước. Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước. Điều đó thể hiện ở chỗ Bộ máy nhà nước là một thiế chế phức tạp bao gồm nhiều loại cơ quan. Để cho bộ máy đó hoạt động được có hiệu quả đòi hởi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi loại cơ quan, mỗi cơ quan; phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng; phải có những phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực thi quyền lực của nhà nước. - Thực tiễn đã chỉ ra rằng khi chưa có một hệ thống pháp luật về tổ chức đầy đủ và đồng bộ, phù hợp làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thệin bộ máy nhà nươc thì dễ dẫn đến tình trang trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của một số cơ quan nhà nước, bộ máy nhà nước sẽ cồng kềnh hoạt động kém hiệu quả.Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định của pháp luật. Thứ hai, Đối với Đảng công sản Việt Nam: - Pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng làm cho đường lối đó có hiệu lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội. - Pháp luật cũng là phương tiện để Đảng kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của mình đối với xã hội. Ví dụ: Thông qua đường lối mở cửa của Đại hội VI chúng ta thấy chủ trương trên là đúng đắn đã thúc đẩy kinh tế phát triển đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Thứ ba, Đối với các tổ chức chính trị - xã hội: Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để bảo đảm cho các tổ chức này tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội.Ví dụ: Trong phiên họp của Chính phủ khi bàn vế các vấn đề liên quan thì phải mời các tổ chức có liên quant ham gia.
    Vai trò của pháp luật đối với đạo đức: Pháp luật sẽ là cơ sở để bảo vệ và bảo đảm cho đạo đức xã hội chủ nghiã phát triển, củng cố các chuẩn mực luân lý tiến bộ, sự công bằng xã hội.
    Vai trò của pháp luật đối với tư tưởng: Pháp luật làm cho tư tưởng của con người trong xã hội được thống nhất hơn.
    Pháp luật góp phần tạo dựng các quan hệ xã hội mới, tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.
    Mối quan hệ giữa PL và PC: - PL và Pc là 2 hiện tượng pháp lý khác nhau, độc lập tưong đối với nhau, nhưng có mối liên hệ phổ biến mật thiết với nhau, tác động qua lại. - PL là cơ sở của PC, nhưng có PL chưa hẳn đã có PC vì PL đã có hiệu lực thi hành nhưng mọi người không thực hiện nghiêm chỉnh thì sẽ ko có PC. - Ngược lại có PL nhưng PL ấy ko đồng bộ, ko kịp thời, ko phản ánh đc ĐK khách quan của những ĐK KT-XH ko thể hiện đc ý chí, nguyện vọng của ND thì PC sẽ ko đc chấp nhận. - PL chỉ có hiệu lực thực sự khi dựa trên cơ sở vững chắc của PC. - PC đc bảo đảm khi có HTPL hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. - PC XHCN đc quy định bởi PL XHCN. - Ko có PLXHCN thì ko thể có PCXHCN và ngược lại ko có PCXHCN thì PL cũng chẳng có ý nghĩa gì.
    Tăng cường PCXHCN trong giai đoạn hiện nay:
    1/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế.Đây là biện pháp cơ bản bao trùm, xuyên suốt trong quá trình củng cố cà tăng cường pháp chế XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng đề ra chiến lược tòan diện về công tác pháp chế.
    2. Đẩy mạnh công tác xây dựng và hòan thiện hệ thống pháp luật XHCN.Pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường trên cơ sở của một hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và hòan thiện, kịp thời thể chế hóa các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng. phản ảnh đúng những đặc điểm của kinh tế xã hội trong một giai đoạn cụ thể.
    3. Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật.Đây là biện pháp lớn bao gồm nhiều mặt hoạt động, nhằm đảm bảo cho pháp luật được tân trọng và thực hiện nghiêm chỉnh.
    4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi pham pháp luật.Đây là biệp pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật đuợc thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật chỉ có thể thực hiện tốt khi có sự chỉ đạo của Đảng, sự chủ động của các cơ quan thẩm quyền và sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân. Kết hợp chặt chẽ kiểm tra giám sát trong Đảng với thanh tra của nhà nước, thanh tra nhân dân. Phát huy mạnh mẽ vai trò trách nhiệm của cá đoàn thể chính trị xã hội, các cơ quan báo chí và quần chúng nhân dân dể làm tốt công tác kiểm tra giám sát phòng chống tham nhũng.
    Chỉnh sửa: chuhai3000, 16-10-2011 lúc 10:16 PM
  9. 17-10-2011, 11:24 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 17-10-2011, 11:24 PM
    Bài viết: 2
    chuhai3000 is offline
    #9

    Default Vai trò của pháp luật

    Câu 3: quy chế làm việc của UBND cấp xã?
    Là quy tắc sử sự mang tính bắc buộc của cơ quan, các cán bộ, công chức phải thực hiện, do UBND xã ban hành nhằm quy định nguyên tắc, lề lối, cách thức, phương thức giải quyết công việc; trách nhiệm phối hợp giải quyết công việc thông qua hoạt động của các bộ phận nội bộ UBND, và mối quan hệ giữa các bộ phận với nhau.
    Mục đích ban hành: - Nhằm quy định trách nhiệm, phạm quy giải quyết công việc và quan hệ công tác của UBND. – Quy định chương trình công tác của UBND. - Quy định thủ tục trình, ban hành và kiểm tra việc thực hiện văn bản. – Quy định chế độ hội họp, tiếp khách, đi công tác và thông tin báo các. - Quy định cách thức tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo.
    Chỉnh sửa: chuhai3000, 18-10-2011 lúc 07:25 AM
  10. 28-12-2011, 01:49 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 28-12-2011, 01:49 PM
    Bài viết: 3
    chuanbi00 is offline
    #10

    Default Vai trò của pháp luật

    Anh Chị nào giúp em câu này với: vai trò của pháp luật quan trọng với sự phát triển của nền kinh tế viêt nam hiện nay. chứng minh nhận định trên. Em xin chân thành cảm ơn
  11. 16-06-2012, 10:16 PM
    Cán sự
    Bắt đầu vào 16-06-2012, 10:16 PM
    Bài viết: 1
    truongquoc93 is offline
    #11

    Default Vai trò của pháp luật



    CHƯƠNG V QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
    I KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
    Quyết định hành chính là một mênh lệnh điều hành của các chủ thể quản lí hành chính nhà nước, được thông qua theo một thể thức nhất định nhằm thực hiện mục đích hay một công việc cụ thể.
    Quyết định hành chính chứa đựng quyền lực của nhà nước, dưới góc độ nhất định là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước (hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền) nhằm đưa ra các quy định chung hoăc giải quyết vấn đè pháp lí hành chính cụ thể đối với tập thể hay cá nhân, có ý nghiã bắt buộc tuân thủ.
    Quyết định hành chính cũng chứa đựng trong đó các mục tiêu mà chủ thể mong muốn tới khi thi hành quyết định và phương tiện để thực hiện chúng.
    Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết cong việc của chủ thể quản lí hành chính trước một tình huống đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lí hành chính nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của nhà nước theo thẩm quyền do luật định.
    • Sự khác nhau giữa quyết đinh quản lí hành chính với các quyết định của các cơ quan nhà nước khác
    Quyết định hành chính khác với các luật ở chỗ nó thuộc quyền hành pháp và có tính dưới luật. mọi quyết đinh hành chính không phù hợp với Hiến pháp và luật ddeuf bị đình chỉ và bão bỏ. Mặt khác, quanh hệ xã hội mà quyết định hành chính điều chỉnh nhìn chung có phạm vi hẹp hơn luật.
    Quyết định hành chính cũng khác với quyết định của Tòa án và Viện kiểm sát. Quyết định của Tòa án thường mang tính cá biệt do tòa án ban hành dưới hình thức bản án và là kết quả của hoạt động xét xử hình sự, dân sự, kinh tế hành chính. Các quyết định loại này thuộc quyền tư pháp.
    Quyết định hành chính cũng khác với các các văn bản hành chính và các giấy tờ có tính chất pháp lí khác. Công văn hành chính dùng đẻ chúng nhận một loại quyền, một sự kiện hoặc một tình trạng pháp lí trên cơ sở quyết định hành chính hoặc làm căn cứ để ra các quyết định hành chính. Văn bản hành chính thông thường có giá trị pháp lí nhưng không làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính, mà nhằm thực hiện các quan hệ pháp luật cụ thể do các quyết định hành chính cá bieeyj đưa ra.
    b) tính chất của quyết định quản lí hành chính nhà nước
    thể hiện ý chí của nhà nước bởi vì nó là kết quả sự thể hiện ý chí của các chủ thể quản lí có thẩm quyền nhân danh nhà nước vì lợi ích của nhà nước. quyết định quản lí hành chính mang tính quyeebf lực nhà nước, ý chí đơn phương của nhà nước mà mọi chủ thể khác đều buộc phải tuân theo nếu họ thuộc phạm vi tác động quy định.
    Mang tính pháp lí thể hiện ở quan hệ pháp lí mà quyết định mang lại. Quyết định quản lí hành chính nhà nước làm thay đổi hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính: hoạch định chủ trương, đường lối nhiệm vụ cho hoạt đong quản lí hành chính, đặt ra, đình chỉ sửa đổi bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính, phát sinh thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.
    Mang tính dưới luật
    Tính chất này xuất phát từ nguyên tắc pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. các quyết định quản lí hành chính được ban hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật. Có nghĩa là nôi dung và hình thức của quyết định quản lí hành chính nhà nước phải được ban hành phù hợp với thẩm quyền của chủ thể ban hành và tuân thủ Hiến pháp, luật, pháp lệnh các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan quyền lực cùng cấp, ban hành theo trình tự, thủ tục luật định.
    Quyết định quản lí hành chính nhà nước được ban hành để thực hiên quyền hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền hành pháp.
    2. phân loại
    Các tiêu chí phân loại tính chất pháp lí, chủ thể ban hành, trình tự ban hành, nội dung cụ thể theo ngành và lĩnh vực quản lí, phạm vi hiệu lực.
    a. Căn cứ vào chủ thể ban hành
    -Quyết định quản lí hành chính nhà nước của Thủ tướng chính phủ
    Ví dụ: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên.
    -Quyết định quản lí hành chính của Bộ trưởng
    Ví dụ: Quyết định số 1152/2003/QĐ-LĐTBXH ngày 18/09/2003 của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
    - Quyết định quản lí nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc UBND

    ---------- Post added at 09:53 PM ---------- Previous post was at 09:51 PM ----------

    LỜI MỞ ĐẦU
    Quyết định quản lí hành chính là sản phẩm của hoạt động quản lí hành chính nhà nước, đồng thời cũng là phương tiện cơ bản để thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước. Các quyết định đó có thể là quyết định mang tính chất bao hàm chung như đưa ra các chính sách, cụ thể hóa các quy phạm pháp luật, hoặc sửa đổi, bãi bỏ các chính sách, quy phạm pháp luật hành chính hiện hành, cũng có thể các quyết định đưa ra với những trường hợp cụ thể áp dụng cho một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định.
    Nếu xét trên phương diện quyết định quản lí hành chính nhà nước là sản phẩm của quản lí hành chính nhà nước thì có thể hiểu: để đưa ra được một quyết định quản lí hành chính nhà nước cụ thể cần có một quá trình nhất định để quyết định đó giải quyết vấn đề một cách hợp pháp và hợp lí.
    Còn nếu với tư cách là phương tiện quản lí hành chính nhà nước thì quyết định quản lí hành chính nhà nước được xem như một công cụ hỗ trợ cho mối quan hệ giữa nhà nước với người dân hoặc các tổ chức, đoàn thể. Với tư cách này, quyết định quản lí hành chính nhà nước là mối liên kết để vấn đề giữa công dân với nhà nước được giải quyết một cách hợp lí và sát đáng nhất.
    Nhưng dù xét ở phương diện, góc độ nào thì quyết định quản lí hành chính nhà nước cũng là một nội dung quan trọng trong bộ môn Lý luận hành chính nhà nước. Chính vì thế, việc tìm hiểu quyết định quản lí hành chính nhà nước đầy đủ và rõ ràng là rất cần thiết, nó sẽ giúp chúng ta nắm được bản chất của hoạt động quản lí hành chính nhà nước cũng như công việc học tập và nghiên cứu sau này.
    Cũng với mục đích giúp các bạn nắm vững hơn những nguyên lí chung về quyết định quản lí hành chính nhà nước nhóm chúng tôi xin kính mời Giảng viên cùng các bạn đến với bài tiểu luận “Quyết định quản lí hành chính nhà nước”.






    CHƯƠNG V QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
    I. TỔNG QUAN VỀ QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
    1. Khái niệm và tính chất của quyết định hành chính nhà nước
    a. Khái niệm
    Quyết định là một hoạt động hay một dãy các hoạt động có ý chí được lựa chọn từ một số khả năng có thể lựa chọn. Những người tham gia quá trình ra quyết định lựa chọn một trong số các lựa chọn đó. Ra quyết định có thể hiểu như là một thực hiện sự lựa chọn một quan điểm hay một hoạt đông trong số những cái có thể lựa chọn.
    Quyết định hành chính là một mệnh lệnh điều hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được thông qua theo một thể thức nhất định nhằm thực hiện mục đích hay một công việc cụ thể.
    Quyết định hành chính chứa đựng quyền lực của nhà nước, dưới góc độ nhất định là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước (hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền) nhằm đưa ra các quy định chung hoặc giải quyết vấn đề pháp lý hành chính cụ thể đối với tập thể hay cá nhân, có ý nghĩa bắt buộc tuân thủ.
    Quyết định hành chính cũng chứa đựng trong đó các mục tiêu mà chủ thể mong muốn tới khi thi hành quyết định và phương tiện để thực hiện chúng.
    Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý hành chính trước một tình huống đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lý hành chính nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của nhà nước theo thẩm quyền do luật định.
     Sự khác nhau giữa quyết định quản lý hành chính với các quyết định của các cơ quan nhà nước khác:
    - Quyết định hành chính khác với các luật ở chỗ nó thuộc quyền hành pháp và có tính dưới luật. Mọi quyết định hành chính không phù hợp với Hiến pháp và luật đều bị đình chỉ và bãi bỏ. Mặt khác, quan hệ xã hội mà quyết định hành chính điều chỉnh nhìn chung có phạm vi hẹp hơn luật.
    - Quyết định hành chính cũng khác với quyết định của Tòa án và Viện kiểm sát. Quyết định của Tòa án thường mang tính cá biệt do tòa án ban hành dưới hình thức bản án và là kết quả của hoạt động xét xử hình sự, dân sự, kinh tế hành chính. Các quyết định loại này thuộc quyền tư pháp.
    - Quyết định hành chính cũng khác với các các văn bản hành chính và các giấy tờ có tính chất pháp lý khác. Công văn hành chính dùng để chứng nhận một loại quyền, một sự kiện hoặc một tình trạng pháp lý trên cơ sở quyết định hành chính hoặc làm căn cứ để ra các quyết định hành chính. Văn bản hành chính thông thường có giá trị pháp lý nhưng không làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính, mà nhằm thực hiện các quan hệ pháp luật cụ thể do các quyết định hành chính cá biệt đưa ra.
    b. Tính chất của quyết định quản lý hành chính nhà nước
    Thể hiện ý chí của nhà nước bởi vì nó là kết quả sự thể hiện ý chí của các chủ thể quản lý có thẩm quyền nhân danh nhà nước vì lợi ích của nhà nước. Quyết định quản lý hành chính mang tính quyền lực nhà nước, ý chí đơn phương của nhà nước mà mọi chủ thể khác đều buộc phải tuân theo nếu họ thuộc phạm vi tác động quy định.
    Mang tính pháp lý
    Thể hiện ở quan hệ pháp lý mà quyết định mang lại. Quyết định quản lý hành chính nhà nước làm thay đổi hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính: hoạch định chủ trương, đường lối nhiệm vụ cho hoạt động quản lý hành chính, đặt ra, đình chỉ sửa đổi bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính, phát sinh thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.
    Mang tính dưới luật
    Tính chất này xuất phát từ nguyên tắc pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước. Các quyết định quản lý hành chính được ban hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật. Có nghĩa là nội dung và hình thức của quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành phù hợp với thẩm quyền của chủ thể ban hành và tuân thủ Hiến pháp, luật, pháp lệnh các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan quyền lực cùng cấp, ban hành theo trình tự, thủ tục luật định.
    Quyết định quản lý hành chính nhà nước được ban hành để thực hiên quyền hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền hành pháp.
    2. Phân loại
    Các tiêu chí phân loại tính chất pháp lý, chủ thể ban hành, trình tự ban hành, nội dung cụ thể theo ngành và lĩnh vực quản lý, phạm vi hiệu lực.
    a. Căn cứ vào chủ thể ban hành
    - Quyết định quản lý hành chính nhà nước của Thủ tướng chính phủ
    Ví dụ: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên.
    - Quyết định quản lý hành chính của Bộ trưởng
    Ví dụ: Quyết định số 1152/2003/QĐ-LĐTBXH ngày 18/09/2003 của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
    - Quyết định quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
    b. Căn cứ vào thời gian có hiệu lực của quyết định
    Theo tiêu chí này thì các quyết định phân chia thành các loại như:
    - Quyết định có hiệu lực lâu dài được áp dụng cho đến khi có quyết định hành chính khác thay thế.
    Ví dụ: Quyết định số 52/2001/QĐ-BCNngày 12 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định về trình tự, thủ tục ngừng cấp điện.
    Quyết định số 39/2005/QĐ-BCN ngày 23 tháng 12 năm 2005 của Bộ Trưởng Bộ Công nghiệp thay thế Quyết định số52/2001/QĐ-BCN ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Bộ Trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định về trình tự và thủ tục ngừng cấp điện (tức là Quyết định ở trên).
    - Quyết định có hiệu lực trong một thời gian nhất định là những quyết định có ghi rõ thời hạn có hiệu lực, tùy thuộc vào thời gian giải quyết vấn đề.
    Ví dụ: Về công bố lệnh báo động trong thời gian lũ lụt đối với nhiệm vụ bảo vệ đê điều, lệnh công bố tình trạng bệnh dịch…
    - Quyết định có hiệu lực một lần chỉ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể.
    Ví dụ: Quyết định trợ cấp đột xuất cho cán bộ, Quyết định trả một khoản tiền khi nghỉ hưu…
    c. Căn cứ vào cấp hành chính
    Theo tiêu chí này, thì các quyết định hành chính chia thành hai loại:
    - Quyết định quản lý hành chính nhà nước cấp Trung Ương : do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành.
    Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số:1590/QĐ-TTg ngày 8 tháng 12 năm 2009: Phê duyệt định hướng phát triển thủy lợi Việt Nam.
    - Quyết định quản lý hành chính nhà nước cấp địa phương: do các cơ quan hành chính nhà nước cấp địa phương ban hành như: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, cấp xã, phường, thị trấn.
    Ví dụ: Chỉ thị của Ủy ban nhândân tỉnh Lâm Đồng về công tác phòng, chống dịch cúm A(H1N1)ở người.
    d. Căn cứ theo hình thức thể hiện
    - Quyết định quản lí nhà nước thể hiện dưới dang văn bản.
    Ví dụ: Nhà nước ban hành luật Hôn nhân và gia đình
    - Quyết định quản lí hành chính nhà nước thể hiện dưới dạng lời nói được sử dụng để điều hành hoạt động nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước hoặc để giải quyết các công việc cụ thể gấp rút…
    Ví dụ: Công điện khẩn của ban phòng chống lụt bão tới địa phương đang gặp bão lũ.
    Công điện khẩn số 6/CĐ-TW gửi Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn các tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, TP Hồ Chí Minh và các Bộ: Quốc phòng, Giao thông Vận tải, Tài nguyên Môi trường, Ngoại giao, Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
    - Quyết định quản lí hành chính nhà nước được thể hiện dưới hình thức biển báo, tín hiệu, kí hiệu.
    Ví dụ: Các biển báo giao thông gặp trên đường khi tham gia giao thông khi gặp trên đường khi tham gia giao thông. Nhằm giúp cho mọi người biết phải làm gì, để đảm bảo an toàn trật tự giao thông tránh xảy ra những điều đáng tiếc.
    e. Căn cứ vào tính chất và nội dung
    Đây là cách phân loại cơ bản nhất và có tính thực tiễn nhất. Theo cách phân loại này quyết định quản lí hành chính nhà nước được phân thành:
     Quyết định quản lí hành chính nhà nước chủ đạo
    Là những quyết định đề ra những chính sách, nhiệm vụ, biện pháp lớn có tính chất chung.
    Ví dụ: Trong chiến lược phát triển kinh tế tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ta ra chủ trương phấn đấu nước ta đến năm 2012 cơ bản là nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
     Quyết định quản lí hành chính nhà nước quy phạm
    - Là quyết định ban hành các quy phạm pháp luật hành chính và cơ sở cho việc ban hành các quyết định hành chính cá biệt.
    Quyết định quản lí hành chính quy phạm trực tiếp làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật hành chính cụ thể.
    Đặt ra các quy phạm hành chính mới nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh mà chưa có luật, pháp lệnh điều chỉnh.
    - Cụ thể hóa các quy phạm pháp luật Quốc hội ban hành hoặc do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành.
    Sửa đổi những quy phạm pháp luật hiện hành.

     Quyết định quản lí hành chính cá biệt
    Khái niệm: Quyết định quản lí hành chính cá biệt là quyết định do các chủ thể quản lí hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành trên cơ sở quyết định quy phạm hoặc trên cơ sở quyết định quản lí hành chính cá biệt của cấp trên nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể trong quản lí hành chính nhà nước.
    Việc ban hành quyết định quản lí hành chính cá biệt làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
    Quyết định quản lí hành chính nhà nước có tính chất đơn phương và bắt buộc thi hành ngay. Tính chất đơn phương và bắt buộc thi hành ngay nhằm đảm bảo cho nền hành chính thực hiện quyền và nghĩa vụ trước xã hội, duy trì trât tự quản lí hành chính nhà nước. Tính bắt buộc thi hành ngay ràng buộc đối với cả cơ quan hành chính nhà nước về công dân tổ chức.
    Đối với cá nhân tổ chức khi nhận được quyết định hành chính cá biệt thì phải thi hành ngay nghĩa vụ mà quyết định đòi hỏi cho dù đương sự cho rằng chưa hiểu là bất hợp pháp, bất hợp lí sau đó mới thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện của mình.
    Đối với cơ quan hành chính, nếu quyết định tạo ra cho công dân tổ chức một quyền lợi, họ yêu cầu được hưởng quyền lợi đó thì cơ quan hành chính nhà nước phải có nghĩa vụ thỏa mãn ngay đòi hỏi đó.





    II. CÁC YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC, THỦ TỤC ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
    Mọi quy định quản lý hành chính nhà nước chỉ có thể đảm bảo có hiệu lực và hiệu quả khi nội dung, hình thức, thủ tục của chúng đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý. Các quy định quản lý hành chính nhà nước phải tuân thủ pháp luật, mọi quy định ban hành phải dựa trên cơ cở pháp luật nhầm để thực thi pháp luật, đảm bảo cho pháp chế của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
    Yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó khi ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước. Chủ thể ban hành phải tính đến cả hai yêu cầu hợp lý và hợp pháp.
    1. Các yêu cầu hợp pháp
    Hợp pháp tức là phù hợp với các quy định của pháp luật, cụ thể ở đây là các quy định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với các quy định của pháp luật nhà nước Việt Nam. Ngoài ra, cũng cần phù hợp với điều ước quốc tế mà nhà nước đã kí kết hoặc gia nhập vì các điều ước quốc tế mà nhà nước ta đã kí kết hoặc gia nhập là những chế định chung, hợp lý và mang tính toàn cầu. Khi một quốc gia cam kết vào điều ước hoặc xin gia nhập tức là mọi văn bản luật liên quan đến vấn đề đó nhà nước phải tuân theo mọi điều khoản và các quyết định quản lý hành chính nhà nước đó cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
    Yêu cầu phải được ban hành đúng thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, có nghĩa là chủ thể ban hành ra một quyết định phải có một thẩm quyền nhất định đi với quyết định đó.
    Quyết định phải được ban hành xuất phát từ những lý đo xác thực, xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước của xã hội dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng và những sự kiện pháp lý nhất định, tức là chỉ khi nào trong hoạt động quản lý nhà nước và đời sống xã hội xuất hiện các nhu cầu, các sự kiện được luật pháp quy định cần phải ban hành quy định thì chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền mới ra các quyết định nhằm quy định chung hoặc áp dụng pháp luật vào các trường hợp cụ thể.
    Quyết định phải được ban hành đúng thể thức, kỹ thuật trình bày theo đúng quy định của pháp luật: tên gọi, thể thức (tiêu đề, ký hiệu, ngày tháng ban hành, chữ ký)
    Quyết định phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định.

    Ví dụ:
    Căn cứ Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác;
    Căn cứ Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên;
    Theo đề nghị Bộ Tài chính tại văn bản số 11518/BTC-TCNH ngày 17 tháng 8 năm 2009
    QUYẾT ĐỊNH :
    Điều 1.
    Điều chỉnh mức vốn cho vay quy định tại khoản 1, Điều 5 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên như sau:
    Mức vốn cho vay tối đa là 860.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên.
    Điều 2.
    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động-Thương binh và Xã hội; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội, Thủ trưởng cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
    Nơi nhận:
    - Như Điều 2;
    - Thủ tướng, các PTTg ;
    - VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ: TH, TKBT, KGVX, Cổng TTĐT;
    - Lưu: VT, KTTH (3) MCường

    THỦ TƯỚNG
    (Đã ký)
    Nguyễn Tấn Dũng

    2. Các yêu cầu hợp lý
    Yêu cầu hợp lý là những yêu cầu tuy rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả quyết định quản lý hành chính nhà nước nhưng do yêu cầu này liên quan tới kĩ thuật, nghệ thuật quản lý do đó chúng không được quy định chặt chẽ, rõ ràng trong pháp coi là luật. Một quyết định hành chính nhà nước được coi là hợp lý khi thỏa mãn các yêu cầu cụ thể sau:
    • Quyết định phải đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân. Tránh ban hành các quyết định chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của nhà nước mà gây cản trở và thiệt hại cho công dân; ngược lại, tránh vì phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người gây tổn hại chung cho xã hội.
    • Quyết định phải có tính cụ thể phù hợp với từng vấn đề, và đối tượng thực hiện, tức là quyết định cần phải cụ thể thời gian, nhiệm vụ, chủ thể, phương tiện thực hiện. Tuy nhiên, nếu một quyết định quá cụ thể thì khó có thể phù hợp với mọi đối tượng và do đó cản trở tính chủ động sáng tạo của đối tượng thực hiện. Vì vậy tính cụ thể phải đi liền với tính phù hợp.
    • Quyết định phải đảm bảo tính hệ thống, toàn diện. Tính hệ thống đòi hỏi không chỉ các biện pháp được đưa ra trong cùng một quyết định mà cả trong các quyết định liên quan đều phải phù hợp, đồng bộ với nhau, kể cả các quyết định của các cơ quan khác về cùng một loại vấn đề. Và nhất là phải luôn gắn mục tiêu, nhiệm vụ cần đạt được với điều kiện thực hiện (nhân lực, vật lực). Tính toàn diện nghĩa là nội dung của quyết định phải tính được đặc điểm của các ngành, lĩnh vực, phải tính đến tác động trực tiếp và gián tiếp của quyết định, mục tiêu trước mắt và lâu dài, phải tính hết hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế mà cả về chính trị, văn hóa, xã hội.

    • Quyết định phải sử dụng ngôn ngữ, văn phong hành chính. Ngôn ngữ và cách trình bày quyết định phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn thì nội dung quyết định mới được thể hiện một cách chính xác, dễ tiếp cận, từ đó mới áp dụng đúng quyết định.
    III. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HUỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
    1. Những yếu tố khách quan
    Vấn đề quyết định: Hành chính là phục vụ nhân dân, là hoạt động diễn ra liên tục thường xuyên. Sự không hài lòng , thoã mãn của xã hội đối với hành chính luôn tồn tại. nhưng hành chính không thể đáp ứng tất cả. Vấn đề trong quản lý hành chính nhà nước chính là những dấu hiệu khó khăn nhận được từ môi trường của các cơ quan hành chính. Tuy nhiên, việc xác định vấn đề quyết định là một vấn đề phức tạp đối với các nhà hành chính bởi một số lý do sau:
    Thứ nhất, những khó khăn nhận được từ môi trường không phải lúc nào cũng nhận thức một cách rõ ràng. Có thể do sự không xác định rõ ràng giữa hai khái niệm “hiện tượng” và “vấn đề”. Một hoặc một loạt các hiện tượng có thể trở thành vấn đề và các nhà hành chính cần phải giải quyết nhưng cũng có thể một loạt các hiện tượng không đưa đến một vấn đề nào cả.
    Thứ hai, việc xác định vấn đề trong hành chính thường có sự tham gia của nhiều người, và nếu không có sự nhất trí chung trong việc xác định vấn đề thì vấn đề giải quyết rất khó được lựa chọn.
    Thứ ba, tính đa dạng phức tạp của vấn đề cũng là một khó khăn cho các nhà hành chính trong việc xác định mục tiêu của quyết định và các phương án để giải quyết vấn đề.
    Đối với những quyết định lập quy, mặc dù trình tự thủ tục ban hành được luật hóa, nhưng việc xác định vấn đề của quyết định mới đóng vai trò quan trọng. Nếu vấn đề không xác định đúng thì không có quyết định đúng.
    - Yếu tố thẩm quyền: nhà hành chính chỉ có thể ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước để giải quyết các vấn đề khi vấn đề đó thuộc phạm vi của nhà hành chính. Tuy nhiên, do tính chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phức tạp, liên quan tới nhiều cấp, nhiều ngành, do đó trong quá trình quản lý hành chính nhà nước có những vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều chủ thể. Nếu sự phân định thẩm quyền không rõ sẽ dẫn tới việc ban hành quyết định chồng chéo, mâu thuẫn.
    - Yếu tố nguồn lực: nhà hành chính chỉ có thể ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước để giải quyết vấn đề khi có đầy đủ các nguồn lực để thực hiện quyết định như đội ngũ cán bộ công chức, cơ sở vật chất kĩ thuật, hệ thống xử lý thông tin. Nếu không có nguồn lực để giải quyết thì ban hành quyết định quản lý chỉ là sự lãng phí.
    - Yếu tố thông tin: thông tin về vấn đề cần giải quyết và thông tin liên quan đến giải quyết vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến xây dưng quyết định. Và hạn chế về thông tin cũng là vấn đề làm cản trở ra quyết định hợp lý.
    - Yếu tố chính trị: việc lựa chọn phương án quyết định để giải quyết vấn đề chịu ảnh hưởng nhất định bởi các quyết định chính trị của Đảng cầm quyền của công luận và các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. chịu ảnh hưởng của yếu tố chính trị
    - Yếu tố pháp lý: nhiều loại thủ tục cản trở việc xác định mục tiêu và phương án giải quyết vấn đề. Nhiều loại thủ tục hành chính nhà nước không phải do cơ quan hành chính nhà nước thiết lập mà do các nhà lập pháp thiết lập. Các loại thủ tục theo hình thức này thường thiếu linh hoạt, thường sẽ dẫn tới tình trạng quan liêu trong quyết định quản lý hành chính nhà nước.
    2. Những yếu tố chủ quan
    - Năng lực và tác phong của người ra quyết định hành chính:
    Mỗi nhà quản lý có những kiến thức kinh nghiệm, tác phong quản lý riêng. Những phẩm chất đó quy định cách tiếp cận, lối tư duy, việc xác định các tiêu chí, trọng số cho từng tiêu chí và phương pháp ra quyết định.
    - Động cơ của người ra quyết định:
    Các quyết đinh luôn mang tính chủ quan do quyết định hành chính được làm bởi các cơ quan hành chính - nhân danh công quyền nhưng lại do con người thực hiện. Con người này không phải do nhà nước sinh ra mà mà từ xã hội chuyển vào Nhà nước. Do đó, khi ban hành quyết định quản lý, họ cố gắng đem lại lợi ích cho bản thân mình hoặc nhóm lợi ích mà mình đại diện. Chính vì thế, quyết định quản lý hành chính nhà nước nhiều khi không thỏa mãn được lợi ích chung.
    IV. QUY TRÌNH XÂY DỰNG, BAN HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
    1.Giai đoạn xây dựng và ban hành quyết định
    Về cơ bản, quy trình xây dựng và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước cũng tuân theo quy trình ra quyết định quản lý, gồm các bước sau:
    Bước 1: Xác định vấn đề quyết định.
    Bước 2: Xác định mục tiêu của quyết định và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và tầm quan trọng.
    Bước 3: Xây dựng phương án quyết định.
    Bước 4: Phân tích các phương án và lựa chọn phương án.
    Tuy nhiên, do quyết định quản lý hành chính nhà nước có sự khác biệt đối với các quyết định quản lí khác nên quy trình, thủ tục xây dựng và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước có những điểm khác biệt. Nhìn chung, để xây dựng, ban hành được một quyết định quản lý hành chính nhà nước nhất định, các nhà hành chính cần tuân thủ các bước sau:
    Bước 1: Xác định vấn đề quyết định
    Là nhận biết sự tồn tại của một sự việc, vấn đề hoặc dự đoán vấn đề có thể phát sinh trong tương lai.
    Thu thập, phân tích đánh giá thông tin thực tiễn cũng như các dữ liệu, những sự việc tình huống liên quan đến vấn đề.
    Kiểm tra tính khách quan và tính chính xác của nguồn thông tin; tránh chủ quan cố định với nguồn thông tin sẵn có.
    Bước 2: Xác định mục tiêu của quyết định
    Là xác định kết quả mong muốn đạt được trên cơ sở dự báo, trong hoàn cảnh và điều kiện nhất định.
    Để xác định mục tiêu là dựa vào các chỉ tiêu giá trị:
    +Giá trị kĩ thuật
    + Giá trị kinh tế
    + Giá trị xã hội
    Phân tích thông tin với kiến thức khoa học và nghiệp vụ, không dừng lại ở bề mặt, phải tìm ra được bản chất sự vật, những mối quan hệ bên trong với xu thế phát triển của sự vật.
    Bước 3: Xây dụng các phương án có thể có để giải quyết vấn đề
    Thực chất thì xây dựng phương án là lập kế hoạch cho phương án và thực hiện kế hoạch đó.
    Xử lý thông tin, tìm ra những giải pháp để xử lý tình huống hiện tại, dự đoán tình huống tương lai để có những biện pháp xử lý thích hợp.
    Phương án xây dựng phải yêu cầu bản chất của quyết định quản lý, nhất là bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị.
    Trong trường hợp phức tạp phải đề ra nhiều phương án để lựa chọn phương án tốt nhất.
    Bước 4: Phân tích và lựa chọn phương án
    Là cách thức lựa chọn phương án phù hợp và tiện lợi nhất để ra quyết định
    Để đánh giá phương án cần sử dụng các phương pháp sau:
    • Phương pháp chấm điểm: Chấm điểm cho từng phương án theo các tiêu chi quyết định
    • Phương pháp SWOT: Phân tích ưu và nhược điểm, khó khăn và thuận lợi của phương án
    • Lập nghiên cứu khả thi: Tức là tiến hành điều tra sơ bộ xem phương án đề xuất có thực hiện được không, có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu đặt ra hay không, hậu quả gián tiếp có thể xảy ra. Thông thường, các phương án xem xét ở các khía cạnh như xã hội ( ảnh hưởng tới con người như thế nào); kĩ thuật ( có phù hợp thực tiễn không ); kinh tế ( chi phí và lợi nhuận có cân bằng không).
    o Dự đoán được tác động của các phương án
    o Cân nhắc phương án, kết hợp các tiêu chí để lựa chọn phương án tối ưu.
    Ví dụ: Từ mức sống còn thấp của công, viên chức, tình hình lạm phát, giá cả thị trường ngày càng leo thang,…trong khi đó tiền lương không tăng gây khó khăn cho đời sống. Từ thực tế trên, nhà nước đã có nhiều phương án để cải thiện đời sống của công, viên chức cụ thể là Ngày 12/4/ Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/12/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng/tháng, tăng 220.000 đồng/tháng so với mức lương cơ bản hiện tại đang áp dụng là 830.000 đồng/tháng.
    Bước 5: Soạn thảo quyết định
    Là quá trình chấp bút để hình thành bản dự thảo quyết định (áp dụng với các quyết định được thể hiện dưới dạng văn bản).
    Trong bản dự thảo cần chỉ rõ:
    - Lý do và mục tiêu chủ yếu của việc ban hành quyết định.
    - Những quy định điều chỉnh : Căn cứ, mức độ hiệu lực, đối tượng điều chỉnh, quy định về cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy…
    - Biện pháp thi hành quyết định.
    - Kế hoạch thi hành quyết định : phân công tổ chức thi hành, kiểm tra giám sát, tổng kết, đánh giá
    - Lựa chọn hình thức văn bản phù hợp
    - Soạn thảo quyết định phải được đưa ra thảo luận để lấy ý kiến một số cơ quan có liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm.
    - Các quyết định quản lý hành chính có nội dung chính trị- xã hội, kinh tế -kĩ thuật sâu sắc cần phải được các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm về lĩnh vực đó góp ý kiến (phương pháp chuyên gia).
    Bước 6: Thẩm định dự thảo
    Để đảm bảo các yêu cầu hợp pháp, hợp lí và sự cam kết thực hiện của các bên liên quan, các cơ quan tư pháp, pháp chế các cấp sẽ thực hiện việc thẩm định. Đây là bước bắt buộc đối với các quyết định quy phạm.
    Bước 7:.Thông qua quyết định
    Thông qua quyết định là quá trình đưa dự thảo quyết định thành quyết định chính thức thông qua việc thảo luận đi đến nhất trí, thống nhất các nội dung cần nêu trong quyết định.
    Quyết định phải được thông qua đúng thủ tục quy định.
    • Thông qua theo chế độ lãnh đạo tập thể và quyết định đa số.
    - Quyết định được thông qua với số phiếu do pháp luật quy định.
    - Chuẩn bị, tổ chức, điều hành và kết thúc cuộc họp thảo luận dự thảo quyết định là vấn đề cực kì quan trọng. Quy chế làm việc cần quy định:
    + Hồ sơ đưa ra cuộc họp phải gồm nhiều tài liệu và một dự thảo quyết định
    + Tài liệu phải gởi đến người dự họp trước ngày họp.
    + Tiến hành hội nghị phải dân chủ, không dùng chức quyền và uy tín cá nhân để đàn áp ý kiến, để hạn chế sáng kiến và dân chủ của người dự họp.
    + Cách trình bày và phát biểu thảo luận phải ngắn gọn, rõ ràng đi thẳng vào nội dung kiến nghị, thẳng vào dự thảo quyết định.
    + Cuối cùng phải sơ kết vấn đề thảo luận và biểu quyết quyết định đã được bổ sung
    - Để đảm bảo chất lượng hội nghị người có trách nhiệm phải thẩm tra trước đề án.
    - Cuộc họp thông qua quyết định được coi là cơ sở giá trị khi số người tham dự đạt 2/3 tổng số thành viên trở lên. Các thành viên dự họp phải đủ tư cách và thẩm quyền, đúng thành phần, phải chịu trách nhiệm ý kiến của mình trong cuộc họp.
    • Thông qua chế độ thủ trưởng
    Khi quyết định người thủ trưởng cần tránh những sai lầm thường mắc sau:
    + Ra quyết định quản lý mà không nắm vững yêu cầu thực tế, giải quyết vấn đề một cách chung chung, không đủ cụ thể để thực hiện, không đủ chính xác, rõ ràng để có thể hiểu và làm khác nhau.
    + Quá tin vào tham mưu, người dự thảo và chấp bút; không cần điều tra kĩ lưỡng, không lắng nghe hết ý kiến người tham gia, có định kiến sẵn, quá tin vào những hiểu biết của mình đi đến quyết định một cách phiếm diện, chủ quan.
    + Ra quyết định mang tính thỏa hiệp, nể nang, dựa dẫm cấp trên, theo đuổi một cách thụ động không sáng tạo, không tự chịu trách nhiệm.
    + Ra quyết định không đúng thẩm quyền, không đủ căn cứ pháp lý. Quyết định trùng lặp, chồng chéo ngay trong bản thân quyết định với các quyết định đã ra trước đây. Khi quyết định mới mang tính chất quy phạm pháp luật không ghi rõ hủy hay triệt tiêu quy phạm pháp luật nào do đó pháp luật mâu thuẫn nhau, mất tính hệ thống và triệt tiêu lẫn nhau.
    Bước 8:Ban hành và truyền đạt quyết định
    Ban hành quyết định là bước văn bản hóa các quyết định quản lý hành chính
    Ban hành vẫn cần lưu ý các nguyên tắc sau: phải đúng thể thức, kĩ thuật trình bày, cách trình bày, ngôn nhữ và văn phong pháp luật.
    Người kí văn bản phải chịu trách nhiệm về nội dung và hình thức văn bản.
    Khi văn bản được ban hành thì cần phải truyền đạt đến các cơ quan, người có trách nhiệm thi hành.
    Có thể truyền đạt quyết định bằng nhiều cách: bằng lời nói, thông báo, điện thoại, bằng phương tiện thông tin đại chúng.

    2. Giai đoạn tổ chức thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước
    Bước 1: Triển khai, tổ chức lực lượng thực hiện quyết định
    Triển khai quyết định đén đối tượng quản lý bằng phương tiện nhanh nhất, theo con đường ngắn nhất, tránh qua nhiều nấc trung gian không cần thiết.
    Khi nhận được quyết định các cơ quan cấp dưới phải thực hiện bằng cách nghiên cứu kĩ lưỡng, đề ra kế hoạch biện pháp thực hiện cho phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành, địa phương mình nhưng đảm bảo không trái với quyết định của cấp trên.
    Phần lớn hoặc hầu hết các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước phải được công bố công khai và tuyên truyền giải thích ý nghĩa nội dung trong toàn dân hoặc trong từng đối tượng nhất định để tự giác chấp hành theo phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” phối hợp giữa chính quyền với tổ chức, các tập thể để thực hiện đúng phương châm đó.
    Phân công cho tổ chức cán bộ đảm bảo những phương tiện cần thiết về vật chất, về tài chính, về nhân lực cho việc thực hiện các quyết định. Nguyên tắc là phân cho bộ phận thì theo chức năng, phân cho cá nhân thì theo khả năng với tinh thần hợp lý và tiết kiệm.
    Khi tổ chức thực hiện các quyết định cần chú ý: Tùy từng tính chất và nội dung, thời gian, điều kiện cụ thể và đối tượng điều chỉnh của quyết định quản lý hành chính nhà nước mà các nhà hành chính có thể áp dụng một trong các phương pháp sau:
    Áp dụng đại trà: Tức là thực hiện rộng rãi trong toàn bộ phạm vi đối tượng, lĩnh vực cần điều chỉnh.
    Ví dụ: Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Vê một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
    Áp dụng thí điểm: tức là quyết định được thực hiện thí điểm ở một số đối tượng, ở một số nơi đẻ rút kinh nghiệm sau đó mới sơ kết tổng kết để triển khai đén toàn bộ đói tượng, phạm vi của quyết định.

    Ví dụ:
    BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỘNG HÒA XÃ HỘI
    CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    Số: 14/2008/QĐ-BKHCN
    Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2008
    QUYẾT ĐỊNH
    Về việc áp dụng thí điểm
    phương thức lập dự toán kinh phí đề tài nghiên cứu cơ bản
    do Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia tài trợ
    Quyết định xây dựng mô hình thí điểm nông thôn mới

    Bước 2: Xử lý thông tin phản hồi và điều chỉnh quyết định.
    Trong quá trình thực hiện quyết định, khó tránh khỏi những sai lệch so với muc tiêu đã định do tình thế có những biến động bất thường hoặc do quyết định không đúng lúc không chính xác cần phải tăng cường công tác xử lý phản hồi đối với quyết định để từ đó có những điều chỉnh kịp thời, cần nghiên cứu thận trọng kĩ lưỡng những quyết định không được thi hành để xác định khuyết điểm ở nội dung hay cách thức tổ chức thực hiện.
    Chỉ nên điều chỉnh quyết định khi nó trái với quy luật, bất hợp pháp, bất hợp lý trên cơ sở phân tích kĩ lưỡng khách quan khoa học.
    3. Giai đoạn tổng kết, đánh giá hiệu lực và hiệu quả của quyết định quản lý hành chính nhà nước
    Sau khi quyết định quản lý hành chính nhà nước được thực hiện cần xác định cụ thể kết quả thực hiện: những việc đã làm được, những việc chưa làm được, phân tích nguyên nhân của những thành công và hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm.
    Một quyết định được đánh giá là có hiệu lực và có hiệu quả khi nội dung, hình thức của nó thỏa mãn các yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý đồng thời nó được tổ chức thực hiện thành công trên thực tế.
    - Đánh giá hiệu lực của quyết định: tức là xem xét quyết định sau khi thực hiện trên thực tế có giải quyết được vấn đề đặt ra, hay đạt được những mục tiêu hay không. Nghĩa là đo lường các kết quả đạt được và so sánh với các mục tiêu của quyết định đã đề ra.
     Quyết định có hiệu lưc khi:
    + Đạt được mục tiêu sớm hơn mong đợi và đạt được thêm lợi ích.
    + Đạt được mục tiêu sớm hơn mong đợi.
    + Đạt được mục tiêu sớm hơn mong đợi.
     Quyết định kém hiệu lực khi:
    + Đạt được mục tiêu nhưng kèm theo hiệu ứng phụ không mong muốn.
    + Đạt được phần nào mục tiêu.
     Quyết định không có hiệu lực khi:
    + Không đạt được muc tiêu ở bất kì mức độ nào.
    + Không đạt được mục tiêu và tạo thêm nhiều rắc rối.
    - Đánh giá hiệu quả của quyết định
    Đây là một công việc hết sức phức tạp đòi hỏi phải nghiên cứu xem xét đầy đủ bằng phương pháp biện chứng và lịch sử để xác định hiệu quả của việc ra quyết định, tác động thực tế của nó đối với việc cải tạo biến đổi quản lý khách thể như thế nào? Phương án tổ chức và phương pháp thực hiện đúng hay sai? Thiếu sót ở khâu nào, người nào? Từ đó rút ra kinh nghiệm phát huy cái làm được, khắc phục cái chưa làm được và trên cơ sở đó ra quyết định mới.
    Đánh giá quyết định phải trung thực nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không giấu giếm khuyết điểm. ngăn chặn thói khoa trương, thổi phồng thành tích, cần kỉ luật nghiêm cán bộ,những tổ chức báo cáo không đúng sự thật, nghiêm khắc với những hiện tượng vụ lợi, cơ hội.

    V. XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC QUYếT ĐịNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC BẤT HỢP PHÁP VÀ BẤT HỢP LÝ
    Thực hiện nghiêm chỉnh và đúng đắn các yêu cầu hợp pháp và hợp lí là điều kiện cần thiết để đảm bảo pháp chế trong hoạt động xây dựng và ban hành quyết định quản lí hành chính nhà nước và cũng là điều kiện cần thiết để đảm bảo hiệu quả cao nhất cho hoạt động đó. Tuy nhiên trên thực tế vẫn không thể tránh khỏi những trường hợp quyết định quản lí hành chính nhà nước có sự vi phạm bất kì yêu cầu nào về nội dung và hình thức, trong trường hợp đó, về nguyên tắc cơ quan nhà nước có thẩm có thể áp dụng các hình thức xử lí dưới đây:
    1. Đình chỉ, bãi bỏ quyết định đã ban hành
    Cơ quan cấp trên thi hành đình chỉ hoặc bãi bỏ quyết định hành chính quản lý hành chính nhà nước trong những trường hợp sau:
    Một là, khi có dấu hiệu nghi ngờ về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định nhưng chưa khẳng định rõ thì cần đình chỉ xem xét.
    Hai là, tùy thuộc vào thẩm quyền của mình mà cơ quan nhà nước cấp trên có quyền đình chỉ và bãi bỏ hoặc chỉ có quyền đình chỉ còn việc bãi bỏ thuộc thẩm quyền của cơ quan khác.
    Ví dụ: Ủy ban nhân dân cấp trên chỉ có quyền đình chỉ Nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, còn quyền bãi bỏ Quyết định đó thuộc về Hội đồng nhân dân cùng cấp.
    Cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định có thể bãi bỏ các quyết định hành chính khi các quyết định đó bất hợp pháp, hoặc bất hợp lý, bãi bỏ quyết định là chế tài nghiêm khắc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở cấp trên đối với cấp dưới.
    Ví dụ: Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, các thành viên Chính phủ, của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành Nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương trái với Hiến pháp và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ (Điều 114-Hiến pháp 1992).
    Chủ tịch Ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ văn bản sai trái của cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp dưới, đình chỉ thi hành Nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những Nghị quyết đó (Điều 124-Hiến pháp 1992).
    2. Khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện quyết định trái pháp luật gây ra
    Hiện nay , hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý nhà nước của chủ thể quản lý nhà nước đã đạt được những kết quả đáng khích lệ cũng như trong việc quyết định quản lý hành chính nhà nước cũng rất đáng khen ngợi. Tuy nhiên, từ tình hình thực tế cho thấy vẫn còn những trường hợp quyết định quản lý hành chính nhà nước còn nhiều bất cập và có sự vi phạm, nhiều quyết định không đúng thẩm quyền, chủ thể, không phù hợp với pháp luật, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống.
    Ví dụ: Như việc quy định về việc cấm học sinh, sinh viên các trường nghệ thuật biểu diễn ở quán bar, vũ trường trong thời gian qua.
    Hoặc Bộ Công an đã có Thông tư số 03 đề nghị Công an các tỉnh, thành phố khôi phục lại hoạt động cấp đăng kí mới đối với xe gắn máy theo yêu cầu sở hữu và sử dụng của người dân và xem chiếc xe máy là một tài sản được pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, ở Hà Nội, việc này không dễ dàng gì vì Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vẫn đang duy trì hiệu lực của quyết định tạm dừng cấp đăng kí xe gắn máy trên bảy quận nội thành. Việc này dẫn đến tình hình là xe máy của một người mà lại đứng tên sở hữu một người khác, nếu không xảy ra tranh chấp thì thôi, còn nếu xảy ra tranh chấp thì cơ bản cũng không thể giải quyết được.
    Như vậy, khi có các trường hợp quyết định trái pháp luật, trái với lợi ích nhân dân đã được thi hành, thì muốn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, kèm theo các biện pháp như đinh chỉ, bãi bỏ quyết định, nhất thiết phải áp dụng biện pháp khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện trái pháp luật đã gây ra bằng các hình thức như bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc tinh thần,…
    Ví dụ: Đối với vụ việc thu hồi đất ở Tiên Lãng-Hải Phòng, Thủ tướng Chính phủ đã nhận định rằng vụ việc cưỡng chế là sự việc rất đáng tiếc, mà nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém của chính quyền huyện Tiên Lãng trong lĩnh vực đất đai. Và Thủ tướng cũng yêu cầu thành phố Hải Phòng, các tỉnh, thành phố, Bộ, ngành thực hiện một số công việc như sau:
    Phải thu những quyết định trái pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Đoàn Văn Vươn.
    Thành phố Hải Phòng phải chỉ đạo làm đúng các yêu cầu cần thiết theo quy định của pháp luật để gia đình ông Đoàn Văn Vươn tiếp tục được sử dụng diện tích đất theo đúng quy định của pháp luật…
    Qua đây ta thấy, trong những trường hợp cụ thể như vậy thì giải pháp khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện quyết định trái pháp luật là rất cần thiết. Nó đã góp phần xoa dịu được nhân dân khi lợi ích của họ bị chính quyền xâm phạm và cũng đồng thời đảm bảo tính nghiêm minh của nhà nước.
    3. Truy cứu trách nhiệm người có lỗi
    Tùy theo mức độ lỗi của người ban hành và thi hành quyết định trong việc ban hành quyết định quản lí hành chính nhà nước bất hợp pháp, bất hợp lí mà người có lỗi có thể bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí trách nhiệm kỉ luật, hành chính, bồi thường thiệt hại về tài sản, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm bồi thường vượt quá mức độ của trách nhiệm kỉ luật hoặc trách nhiệm hành chính thì phải được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự.
    Trước hết, phải truy cứu trách nhiệm người ban hành quyết định trái pháp luật. Đối với người thi hành thì chỉ truy cứu trách nhiệm khi họ làm trái quyết định quản lí hành chính bằng hành vi cố ý hay vô ý lạm dùng quyền hạn.
    Việc áp dụng các hình thức xử lý trên cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
    - Đối với các quyết định vi phạm yêu cầu hợp pháp: Nếu vi phạm các yêu các hợp pháp đối với nội dung và hình thức quyết định đó là vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần .
    - Đối với quyết định vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành nội dung quyết định không vi phạm pháp luật thì về nguyên tắc vẫn phải đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ quyết định đã ban hành và truy cứu trách nhiệm người có lỗi nhưng không phải áp dụng biện pháp khôi phục lại tình trạng cũ. Nếu việc ban hành quyết định này vẫn cần thiết thì phải tiến hành lại các bước theo quy định pháp luật.
    - Đối với các quyết định vi phạm yêu cầu hợp lý:
    + Nếu vi phạm các yêu cầu hợp lý đối với nội dung và hình thức quyết định thì thông thường không áp dụng biện pháp chế tài hoặc biện pháp trách nhiệm nào cả, nhưng nếu quyết định không hợp lý gây thiệt hại lớn thì có thể áp dụng chế tài đình chỉ hoặc bãi bỏ bởi các cơ quan cấp trên, cơ quan ban hành bị yêu cầu tự sửa đổi quyết định, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm kỷ luật, nhưng không thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật nếu vi phạm nhiều lần.
    + Các quyết định quản lý hành chính nhà nước bất hợp lý không thể thực hiện được ( bất khả thi) nếu không gây hậu quả thì không phải áp dụng lại biện pháp khôi phục tình trạng cũ. Còn quyết định không hiệu quả cũng không cần khôi phục lại tình trạng cũ do việc thực hiện gây ra mà chỉ cần sửa đổi lại quyết định đó hoặc hủy bỏ và ban hành quyết định mới hiệu quả hơn.
















    KẾT BÀI
    Qua nội dung đã trình bày trên đây nhóm chúng tôi hy vọng đã cung cấp đầy đủ cho các bạn những kiến thức cơ bản và cần thiết về đề tài quyết định quản lý hành chính nhà nước như:
    I.Tổng quan về quyết định quản lý hành chính nhà nước.
    II. Các yêu cầu về nội dung và hình thức, thủ tục đối với quyết định quản lý hành chính nhà nước.
    III. Những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xây đựng quyết định quản lý hành chính nhà nước.
    IV. Quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước.
    V. Xử lý đối với các quyết định quản lý hành chính nhà nước bất hợp pháp và bất hợp lý
    Để giúp các bạn có cơ sở hiểu rõ hơn về bản chất quản lý hành chính nhà nước cũng như giúp các bạn trong quá trình nghiên cứu chung về môn học lý luận hành chính nhà nước.
    Mặc dù đã hoàn thiện một cách tốt nhất nhưng do năng lực còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Giảng viên bộ môn và các bạn sinh viên trong lớp để bài thảo luận của nhóm chúng tôi được hoàn thiện hơn.
    Xin chân thành cảm ơn!

    ---------- Post added at 09:54 PM ---------- Previous post was at 09:53 PM ----------

    LỜI MỞ ĐẦU
    C
    ũng giống như nhà nước, pháp luật ra đời là sản phẩm của xã hội có giai cấp, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội và thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Dọc theo tiến trình lịch sử xã hội loài người đã trải qua bốn kiểu nhà nước, tương ứng với đó là bốn kiểu pháp luật, nhưng trong đó pháp luật xã hội chủ nghĩa là kiểu pháp luật cuối cùng và hoàn thiện nhất. Nó là sự thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động- hai tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội.
    Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; là chuẩn mực để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Hơn nữa, pháp luật xã hội chủ nghĩa còn có vai trò là nhân tố thể chế và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực thuộc về nhân dân và là cơ sở để các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
    Tuy nhiên, pháp luật cũng là một hiện tượng xã hội gắn liền với nhà nước, do đó nó cũng có các hình thức thể hiện và tồn tại riêng của mình, mà dạng tồn tại phổ biến nhất là dưới dạng các quy phạm pháp luật.
    Để hiểu rõ hơn về hình thức cũng như vai trò của pháp luật nói chung và hình thức, vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng nhóm chúng tôi kính mời giảng viên bộ môn và các bạn sinh viên lớp Quản lý nhà nước K34 cùng đến với nội dung bài tiểu luận về vấn đề: “Hình thức và vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa.”
    Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cụ thể hơn nội dung của vấn đề.





    A.HÌNH THỨC PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
    I. KHÁI NIÊM VÀ PHÂN LOẠI.
    1. Khái niệm.
    Mỗi quốc gia có một nền pháp luật riêng với những hình thức thể hiện nhất định và ngay trong một quốc gia cũng có thể đồng thời có những cách biểu hiện khác nhau của pháp luật. Tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm cụ thể của từng xã hội, của mỗi nước mà Nhà nước chấp nhận hoặc thừa nhận hình thức pháp luật này hay hình thức pháp luật khác.
    Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, hình thức pháp luật duy nhất được thừa nhận đó là hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.
    Hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là cách thức mà giai cấp công nhân, nông dân lao động sử dụng để Nhà nước hóa ý chí của mình thành các quy phạm pháp luật ( các quy tắc của hành vi, khuôn mẫu của hành vi), là những dạng tồn tại thực tế của pháp luật.
    Pháp luật xã hội chủ nghĩa có bản chất khác hẳn với các kiểu pháp luật trước. Như pháp luật chủ nô là ý chí của giai cấp chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô còn giai cấp nô lệ không có quyền lợi gì.
    Pháp luật phong kiến là công cụ của nhà nước phong kiến thể hiện ý chí của địa chủ.
    Pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản, dù có những tiến bộ hơn pháp luật chủ nô và pháp luật phong kiến nhưng nó vẫn bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của giai cấp tư sản.
    Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động.
    Như vây, pháp luật là sản phẩm của nhà nước. Nhà nước nào bản chất ra sao thì nội dung hình thức đó thể hiện bằng ý chí của giai cấp nắm quyền trong xã hội.
    nên nó đòi hỏi phải có hình thức thể hiện phù hợp với bản chất đó.
    2. Phân loại.
    Hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.
    - Hình thức bên trong của pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống pháp luật tạo thành bởi các ngành luật, mỗi ngành luật gồm các chế định pháp luật, mỗi chế định gồm nhiều quy phạm pháp luật.
    Ví dụ : Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 gồm 777 điều, chia thành 7 phần và 36 chương. Mỗi phần , mỗi chương lại chia thành các điều nhỏ hơn, quy định rất chặt chẽ và chi tiết
    - Hình thức bên ngoài (các nguồn ) của pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm tập quán pháp , tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó văn bản quy phạm pháp luật là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
    +Tập quán pháp: xét về nguồn gốc, bắt nguồn từ những tập quán đã lưu truyền trong xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng về nguyên tắc nó không phù hợp với xã hội chủ nghĩa vì nó ít biến đổi và mang tính cục bộ. Đối với những giá trị truyền thống tốt đẹp thì được nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận nhưng sự thừa nhận đó được thể hiện bằng việc thể chế nó trong các văn bản quy phạm pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế.
    Ở Việt Nam, về cơ bản tập quán pháp cũng không được thừa nhận, nhưng do sự đa dạng của các mối quan hệ xã hội thì các phong tục tập quán có nội dung phù hợp, tiến bộ đã được bổ sung vào pháp luật.
    Ví dụ:
    ∙ Nghỉ Tết Nguyên Đán ở Việt Nam.

    Điều 73 Bộ Luật Lao động
    Tết âm lịch: bốn ngày (một ngày cuối năm và ba ngày đầu năm âm lịch).
    ∙ Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế do Đảng khởi xướng đã được đưa vào các quan điểm nguyên tắc về tập quán pháp trong Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị.
    +Tiền lệ pháp: là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của cơ quan hành chính hoặc cơ quan xét xử trên khi giải quyết các vụ việc cụ thể, làm cơ sở áp dụng cho các trường hợp tương tự.
    Hình thái này xuất phát từ hoạt động của cơ quan tư pháp và hành pháp, không phải xuất phát từ cơ quan quyền lực của Nhà nước ban hành nên bộc lộ những hạn chế nhất định. Một mặt, tạo những lỗ hổng cho việc xét xử, các cơ quan hành chính giải quyết một cách tùy tiện, mặt khác nó không thể đáp ứng nhu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là triệt để tôn trọng giá trị pháp lí của các văn bản quy phạm pháp luật.
    Trước những mối quan hệ xã hội mới nảy sinh, pháp luật xã hội chủ nghĩa chưa thể hoàn chỉnh trong thời gian ngắn, nhưng đứng trước yêu cầu cấp bách đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa vẫn áp dụng hình thức này nhưng ở những dạng mới.
    +Văn bản quy phạm pháp luật : là văn bản do cơ quan nhà nước Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức được ủy quyền ban hành theo những thủ tục và hình thức nhất định trong đó chứa đựng những quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
    Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất, cơ bản nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tính ưu việt của văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở chỗ:
    + Là hình thức pháp luật thành văn, do đó dễ nhận thức, dễ thực hiện và áp dụng trong thực tế đối với các loại chủ thể khác nhau và khả năng đem lại hiệu quả pháp luật cao.
    + Được hình thành trực tiếp từ hoạt động sáng tạo pháp luật vì vậy, nội dung của văn bản có khả năng cụ thể hóa ý chí nhà nước một cách thuận lợi, sát thực và phù hợp với thực tiễn khách quan.
    + Có quá trình hình thành, sửa đổi, hủy bỏ nhanh hơn so với tập quán pháp, tiền lệ pháp, từ đó sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội.
    Chính từ những ưu thế riêng có của mình mà các văn bản khác không có đã bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật xứng dáng là hình thức ( nguồn) chủ yếu nhất và quan trọng nhất của pháp luật.
    II - CÁC LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
    Kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1980, Hiến pháp năm 1992 đã xác định một cách tương đối chặt chẽ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta. Căn cứ vào hiệu lực pháp lí và trình tự ban hành, các văn bản quy phạm pháp luật được chia ra Văn bản luật và Văn bản dưới luật
    1. Văn bản luật:
    Gồm các đạo luật, bộ luật là những văn bản do Quốc hội ban hành. Đó là những văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất sau Hiến pháp.
    Ví dụ:
    -Bốn bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992

    -luật bầu cử đại biểu Quốc hội,Luật tổ chức Quốc hội
    2. Văn bản dưới luật
    a. Pháp lệnh và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao. Các pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực pháp lí thấp hơn Hiến pháp, các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội nhưng lại có giá trị pháp lí cao nhất trong các văn bản dưới luật.
    Ví dụ: Nghị quyết số 620/2008/UBTVQH 12 về việc thành lập nhóm Nữ nghị sĩ Việt Nam.
    b. Lệnh và quyết định của Chủ tịch nước.
    Các văn bản do Chủ tịch nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, không mâu thuẫn với các pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    Ví dụ:Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố pháp lệnh:13/2002/L/CTN.
    c. Nghị quyết,nghị định của Chính phủ,quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
    Các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực pháp lí thấp hơn Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội cũng như các văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội và không được trái với các văn bản đó.
    Ví dụ: Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình
    d. Quyết định , chỉ thị, thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan khác thuộc Chính phủ.
    Các quyết định, thông tư, chỉ thị của các cơ quan trên phải phù hợp với Hiến pháp, luật của Quốc hội cũng như các văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước , Chính phủ và thủ tướng
    e. Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân.
    Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương. Nghị quyết của Hội đồng nhân dânkhoong được trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của Chủ tịch nước , Chính phủ, Thủ tướng và các văn bản của các cơ quan quyền lực nhà nước và quản lí nhà nước cấp trên.
    Ví dụ: Nghị quyết23 /2007/NQ-H ĐND về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp về phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm 2006-2010
    f. Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban Nhân dân.
    Ủy ban nhân dân là cơ quan do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, vơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.Ủy ban nhân dân trong phạm vi thẩm quyền của mình ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các quyết định, chỉ thị đó.
    Ví dụ: Chỉ thị số 04/2009/CT-UBND về công tác chống dịch cúm A (H1N1) ở người
    III – HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
    Mỗi loại văn bản quy phạm pháp luật đều có hiệu lực riêng của nó.
    Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là phạm vi tác động của văn bản về thời gian, về không gian, về đối tượng áp dụng.
    Hiệu lực về thời gian
    Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật được xác định từ thời điểm văn bản phát sinh hiệu lực tới thời điểm văn bản hết hiệu lực.
    Thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản được xác định theo các tình huống khác nhau. Nếu thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản được quy định trong văn bản đó.
    Ví dụ: Luật Giáo dục được quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 trong đó Điều 119 quy định luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 hay Bộ luật dân sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 và công bố ngày 27/06/2005 bằng lệnh của Chủ tịch nước, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2006 theo Nghị quyết số 45/2005 –QH ngày 14/06/2005.
    Nếu thời điểm phát sinh hiệu lực của văn bản không được quy định trong văn bản đó hoặc một văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì phải căn cứ vào tính chất pháp lí của từng loại văn bản để xác định.
    Thời điểm hết hiệu lực của văn bản cũng được xác định theo nhiều trường hợp. Nếu trong văn bản có quy định thời gian hết hiệu lực thì tới ngày đó văn bản mặc nhiên chấm dứt hiệu lực. Nếu văn bản không quy định thời gian hết hiệu lực thì văn bản đó chấm dứt hiệu lực toàn bộ hay một phần khi có văn bản mới thay thế, của cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị hủy bỏ bãi bỏ bằng một văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc của cá nhân có thẩm quyền. Văn bản quy định chi tiết hướng dẫn của văn bản hết hiệu lực đồng thời cũng là thời điểm hết hiệu lực của bản đó.
    Hiệu lực về không gian
    Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật thường xác định theo vùng lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và đối tượng áp dụng.
    Nếu trong văn bản quy phạm pháp luật có quy định không gian tác động của văn bản thì có thể xác định được ngay hiệu lực về không gian của nó một cách dễ dàng.
    Trong trường hợp văn bản không quy định phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó tác động thì phải dựa vào thẩm quyền ban hành văn bản và nội dung của văn bản để xác định hiệu lực về không gian của văn bản.
    Ví dụ: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” (Điều 57 Hiến pháp Việt Nam năm 1992).
    Các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền ở Trung Ương ban hành thì có hiệu lực trên phạm vi cả nước, còn văn bản do HĐND và UBND ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi địa phương do họ quản lý.
    Tuy vậy, cũng cần có căn cứ vào nội dung văn bản để xác định hiệu lực, vì có văn bản mặc dù do cơ quan nhà nước ở Trung Ương ban hành nhưng nội dung của nó chỉ liên quan tới một hoặc một số vùng lãnh thổ nhất định.
    Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ :
    Quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội 3 vùng KTTĐ quốc gia đến năm 2010, bao gồm 3 vùng KTT Đ ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
    Hiệu lực về đối tượng áp dụng
    Đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật là những cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức trên vùng lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và không gian.
    Nếu văn bản quy phạm pháp luật quy định đối tượng áp dụng của văn bản thì việc xác định hiệu lực về đối tượng áp dụng của văn bản dễ dàng, còn không quy định thì phải dựa vào thẩm quyền ban hành và nội dung văn bản để xác định.
    Văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền ở Trung Ương ban hành đều được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam trên phạm vi cả nước và ở nước ngoài.
    Cần chú ý đến nội dung của văn bản quy phạm pháp luật để xác định có hiệu lực của văn bản theo đối tượng áp dụng. Vì có văn bản do cơ quan nhà nước ở Trung Ương ban hành nhưng nội dung chỉ liên quan đến một số đối tượng nhất định.
    Ví dụ: Nghị Định của Chính Phủ số 73/2005/HĐ-CP ngày 6-6-2005 về đào tạo cán bộ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam tại các trường ngoài Quân đội.
    B. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT CHỦ NGHĨA
    Trong đời sống xã hội, pháp luật xã hội chủ nghĩa giữ vai trò rất quan trọng, cho việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt xã hội, là phương tiện để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ.
    Pháp luật là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, tùy từng lĩnh vực mà vi phạm và mức độ điều chỉnh của pháp luật có sự khác nhau.
    Pháp luật xã hội chủ nghĩa chỉ được thấy rõ khi được gắn với chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong quan hệ này vai trò của pháp luật được thể hiện trên những mặt sau:
    1.Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
    Pháp luật do Nhà nước đặt ra và bảo vệ, nhưng mặt khác Nhà nước cũng cần có pháp luật để thực hiện vai trò quản lí của mình đối với xã hội.
    Trước hết, pháp luật xác lập củng cố và hoàn thiện các cơ sở pháp lí Nhà nước, nhằm phát huy cao nhất hiệu lực quản lí của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Điều đó thể hiện thông qua việc pháp luật đã xác định rõ nguyên tắc tổ chức, xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, các phương pháp tổ chức, nội dung hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ thực hiện quyền lực Nhà nước.
    Thứ hai, pháp luật là cơ sở để hoàn thiện hơn nữa bộ máy Nhà nước, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống lí luận xã hội chủ nghĩa. Pháp luật xác lập một cách phù hợp với cơ chế quản lí mới từ hoạt động lập pháp, tư pháp đến hành pháp.
    Thứ ba, pháp luật là một hệ thống thiết chế rất phức tạp gồm nhiều bộ phận gắn liền với sự vận hành của Nhà nước. Pháp luật mang bản chất của Nhà nước nên nó tồn tại song hành cùng Nhà nước và làm cơ sở cho sự hoàn thiện của hệ thống pháp lí xã hội chủ nghĩa.
    Thực tế ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều các loại cơ quan Nhà nước. Mỗi loại cơ quan Nhà nước lại có một quy định về quyền hạn, chức năng, thẩm quyền cũng như hoạt động của nó. Làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, làm hạn chế sự chồng chéo giữa các cơ quan với nhau, để đảm bảo cho sự vận hành bình thường của xã hội. Chúng ta có Luật tổ chức Chính Phủ, Luật tổ chức Ủy Ban Nhân Dân, Luật tổ chức Viện Kiểm Sát Nhân Dân…Quy định sự hoạt động của mỗi cơ quan và vi phạm hoạt động cũng như quyền hạn của nó.
    2. Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức và quản lí kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội.
    Chức năng tổ chức và quản lí kinh tế là một trong những chức năng quan trọng nhất của Nhà nước ta. Chức năng này có phạm vi rộng và quy mô phức tạp nhất, với nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ mà Nhà nước cần phải quan tâm. Từ hoạch định chính sách, đề ra kế hoạch cho tổ chức thực hiện trên thực tế. Toàn bộ quá trình cần có sự kiểm tra, giám sát, đánh giá…đòi hỏi sự hoạt động tích cực của Nhà nước để tạo ra một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế, mang lại những hiệu quả thiết thực. Nhưng Nhà nước lại không trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế, mà chỉ đóng vai trò quản lí chúng nên để thực hiện tốt vai trò của mình, Nhà nước cần có sự giúp đỡ của pháp luật. Nhờ có pháp luật hoạt động kinh tế trở nên hiệu quả hơn.
    Ví dụ :Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,… Từ năm 1988 đến hết năm 2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm 2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5 triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.
    Hiện nay, pháp luật nước ta góp phần định hướng cho sự phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhấn mạnh cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Trong đó sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể là nền tảng (Điều 15, Hiến pháp 1992).
    Nhờ có pháp luật mà hoạt động kinh doanh của nước ta được đảm bảo và kiểm soát. Tạo cơ chế pháp lí giải quyết các tranh chấp kinh doanh, chế độ quản lí của Nhà nước về kinh tế.
    3. Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền lực nhân dân,bảo đảm công bằng xã hội.
    Pháp luật có vai trò củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị, xác định rõ cơ cấu tổ chức, vị trí, vai trò, chức năng của mọi tổ chức trong hệ thống chính trị, xác định rõ cơ cấu tổ chức, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận trong hệ thống đó, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước. Bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
    Pháp luật nước ta quy định: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…” (Điều 2, Hiến pháp 1992). Pháp luật quy định quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền được biết, được bàn, được giám sát và kiểm tra đại bộ phận các chính sách của Nhà nước, trừ những quyết định lưu hành nội bộ, liên quan đến an ninh, quốc phòng, bí mật quốc gia.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng ta, những người lãnh đạo thay mặt nhân dân, những người do nhân dân tín nhiệm bầu ra, phải làm sao cho nhân dân có ăn, có mặt, có nhà ở và phải được học hành, được bảo đảm về cuộc sống, sức khỏe, được hưởng quyền tự do và xứng đáng được hưởng những quyền ấy”.
    “Pháp luật Việt Nam do quốc hội ban hành, mà quốc hội do nhân dân bầu ra và đại diện cho nhân dân. Vậy pháp luật Việt Nam thực sự là nền pháp luật dân chủ, vì nó bảo vệ quyền lợi , quyền tự do dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động”. (Điều 6, Hiến pháp 1992).
    Trong điều 52, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
    Pháp luật bảo đảm cho trật tự, công bằng toàn xã hội bằng bộ máy công cụ pháp lí và công cụ trấn áp của mình. Tất cả các hành vi phá hoại công bằng xã hội sẽ bị pháp luật trừng trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc của Nhà nước.
    Đảm bảo công bằng xã hội là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nếu không duy trì được sự công bằng xã hội thì Nhà nước xã hội chủ nghĩa đang xây dựng sẽ bị sụp đổ. Như sự sụp đổ của Nhà nước Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
    4. Pháp luật là cơ sở giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
    Với tư cách là công cụ hữu hiệu của Nhà nước, là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, cùng những đặc thù riêng của mình thì pháp luật xã hội chủ nghĩa là một trong những nhân tố có vai trò cơ sở trong việc bảo đảm an ninh chính trị và bảo vệ sự ổn định của xã hội.
    Pháp luật không những ghi nhận và điều chỉnh các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể, xã hội mà các quy phạm pháp luật còn được đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đưa các quan hệ này vào khuôn khổ, trât tự, chẳng hạn quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái theo Điều 34, Luật Hôn nhân và Gia đình: “Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức…”. Hướng các hành vi xử sự của chủ thể theo hướng tích cực thiết lập nên một trật tự pháp luật, cũng như tạo điều kiện để mỗi cá nhân có cơ hội tham gia vào công cuộc giữ gìn và duy trì trật tự xã hội, an ninh quốc gia. Điều 77, Hiến pháp 1992 đã nêu rõ: “Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”. Điều 79, Hiến pháp 1992 cũng có nội dung tương tự: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, Pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”.
    Mặt khác, pháp luật xã hội chủ nghĩa còn nghiêm cấm mọi hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội và mất ổn định chính trị, xâm hại tới lợi ích của xã hội, của Nhà nước, của tập thể và của công dân. Điều này đã được thể hiện qua các Điều 61,63,71,... của Hiến pháp 1992, đặc biệt Điều 79, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân phải trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”.
    Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ pháp lý hiệu quả nhất để giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội, bảo đảm cho mọi công dân có cuộc sống bình yên, ổn định, mở ra điều kiện phát triển lâu dài cho đất nước. Đây là một trong những vai trò thiết yếu, quan trọng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bởi pháp luật không đảm bảo được vai trò này thì đất nước sẽ đứng trước nguy cơ bị công kích, phá hoại của các thế lực bên ngoài, cũng như những bất ổn chính trị, an ninh bên trong.
    5.Pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ.
    Pháp luật quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ thể, tạo điều kiện cho các chủ thể khả năng sử dụng các quyền đã được xác định để phục vụ lợi ích chung của mình và toàn xã hội. Pháp luật là khuôn mẫu cho các hành vi xử sự. Trong các tình huống đã được dự kiến pháp luật quy định họ được làm gì và không được làm gì, nếu sai sẽ chịu hậu quả như thế nào.
    Ví dụ: Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định: “Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà vẫn còn vi phạm thì bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không gian giữ ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.
    Ở quy phạm pháp luật trên trong phần giả định, nó đã chỉ rõ trường hợp đó là người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái hoặc người có công nuôi dưỡng mình, gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà vẫn còn vi phạm. Với trường hợp như vậy thì nó cũng đưa ra chế tài là bị xử phạt cảnh cáo, cải tạo không gian giữ ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Với chế tài trên nó có tác dụng răn đe cảnh cáo các chủ thể, giúp họ nhận thức được sẽ bị xử phạt nếu như vi phạm hoặc rơi vào trường hợp trên để các chủ thể tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp đó là không ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái hoặc người có công nuôi dưỡng mình, gây hậu quả nghiêm trọng.
    Sự tồn tại của hệ thống quy phạm pháp luật tự bản thân nó đã có ý nghĩa giáo dục, nó tác động tới sự nhận thức và tư tưởng của mỗi thành viên trong xã hội, giáo dục ý thức cho mỗi con người thói quen sống và làm việc theo pháp luật; làm cho con người có khả năng lựa chọn hành vi xử sự hợp lí vừa phù hợp với lợi ích bản thân vừa phù hợp với lợi ích xã hội.
    Ví dụ: Theo điểm B khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ có quy định: “người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện, các loại xe tương tự như xe mô tô và xe gắn máy (kể cả xe ba gác và xe lôi máy) vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, đó là không báo hiệu trước khi xin vượt thì bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 40.000đồng đến 60.000đồng.
    Anh A điều khiển xe mô tô đang tham gia giao thông, anh A đã vượt lên trước mà không báo hiệu và bị công an giao thông tuần tra thổi còi và phạt tiền là 60.000 đồng căn cứ theo điểm B khoản 1 Điều 9 luật giao thông đường bộ nói trên. Việc xử phạt trên đã làm cho anh A nhận thức được sẽ tiếp tục bị xử phạt hành chính nếu vi phạm lại những trường hợp vừa rồi. Từ đó, anh A ý thức rằng khi tham gia giao thông, trước khi vượt phải báo hiệu để khỏi bị xử phạt và không gây ra tai nạn. Anh đã thực hiện theo, dần dần hình thành thói quen tham gia giao thông đúng pháp luật.
    6.Pháp luật xã hội chủ nghĩa góp phần tạo dựng những quan hệ mới và.
    Bên cạnh chức năng phán ánh, mô hình hóa các nhu cầu khách quan của xã hội, pháp luật xã hội chủ nghĩa còn “định hướng’’ cho sự phát triển của các quan hệ xã hội, góp phần tạo dựng những quan hệ mới.
    Mặc dù quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triển, tuy nhiên sự vận động của các quan hệ xã hội luân theo một quy luật nhất định mà con người có thể nhận thức được. Dựa những kết quả và dự báo khoa học, người ta có thể dự kiến được những thay đổi của các quan hệ xã hội điển hình cần tới sự điều chỉnh của pháp luật, từ đó pháp luật được đặt ra để tạo cơ sở cho việc xác lập những quan hệ mới được biểu hiện qua:
    -Pháp luật thiết kế những mô hình tổ chức tương ứng, chủ động kịp thời tác động thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội.
    Điều này được thể hiện rõ qua việc mỗi lĩnh vực trong xã hội đều có những bộ luật quy định riêng nhằm điều chỉnh các hoạt động trọng từng lĩnh vực có ảnh hưởng đến xã hội, đồng thời những lĩnh vực này đều chịu sự quản lý của các bộ nghành trong lĩnh vực đó.
    Ví dụ: Nước ta có đến 18 bộ trong đó mỗi bộ lại đảm nhiệm những vai trò khác tuy nhiên giữa các bộ vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm đưa xã hội ngày càng ổn định.
    -Sự hợp tác và mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia chỉ có thể pháp triển trong mỗi trường hợp chính trị-kinh tế-xã hội ổn định, điều đó nó được thể hiện qua việc:
    Ví dụ: Ở nước ta thời kì trước đổi mới, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách ngoại giao khép kín. Nước ta chỉ quan hệ ngoại giao, kinh tế, chính trị với các nước xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật của nước ta ngăn cấm hoạt động đầu tư của tư bản nước ngoài. Trong thời đại mở cửa và Quốc tế hóa như hiện nay điều đó không còn phù hợp nữa. Đường lối ngoại giao của nước ta đã có sự thay đổi căn bản. Hiện nay, chúng ta đã đặt quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biêt 11/2007 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Điều đó đòi hỏi pháp luật phải có những thay đổi để phù hợp với xu thế chung. Sự thay đổi đó thể hiện trong các bộ luật như Luật Đầu tư, Luật Thương Mại
    Pháp luật thiết lập một trật tự trên cở sở những đặc điểm , đặc thù của mình khiến cho mọi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội phải tôn trọng những cam kết và phải chịu trách nhiệm về những vấn hậu quả có thể xảy ra.
    Chính việc thể hiện tính dân chủ và phản ánh lợi ích dân tộc đã giúp củng cố vững chắc hơn cho việc mở rộng các mối quan hệ hợp tác và phát triển với các quốc gia và tổ chức quốc tế. Qua đó sẽ giúp bạn bè quốc tế có một cái nhìn đúng đắn về đất nước và con người Việt Nam để tiếp tục phát triển các mối quan hệ hợp tác tốt đẹp hơn nữa.
    Đồng thời thiết kế những mô hình tổ chức nhà nước tương ứng, chủ động và kịp thời tác động, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển xã hội.
    Ví dụ: Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,… Từ năm 1988 đến hết năm 2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm 2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5 triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD..
    7. Pháp luật tạo môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác và pháp triển.
    Sự hợp tác quốc tế có thể phát triển trong môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau.
    Chế độ chính trị quyết định tính thực thi pháp luật một quốc gia. Những quốc gia có sự tách biệt giữa cơ quan lập pháp và hành pháp sẽ phát huy tính thực thi của pháp luật hơn, ngược lại đối với các quốc gia chưa có sự tách biệt giữa công tác lập pháp và hành pháp thì tính thực thi của pháp luật không cao. Sự tách biệt cơ quan hành pháp và lập pháp sẽ đảm bảo được tính minh bạch trong thực thi pháp luật, tạo môi trường tốt cho thu hút đầu tư và phát triển kinh tế.
    Bên cạnh đó chính trị sẽ góp phần xác lập môi trường đầu tư, chẳng hạn như môi trường ổn định, chi phí giao dịch, thủ tục pháp lý... là những biến số đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư. Quan điểm phát triển kinh tế cũng là một hình dạng của thể chế chính trị, nó quyết định sức thu hút nguồn lực cho phát triển kinh tế của quốc một quốc gia. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chế độ chính trị của các quốc gia đang có xu hướng hội tụ về bản chất. Việc hội tụ này nhằm giúp sự di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia dễ dàng hơn. Lúc đó vốn xã hội và văn hóa sẽ là nguồn lực chủ yếu phân giữa các quốc gia
    Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao, khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà nước, được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. Bằng chính sách hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó, nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Các chủ thể là người nước ngoài khi tham gia , hội nhập vào các vấn đề kinh tế, văn hóa, giáo dục của nước ta sẽ phải tuân theo những quy định có trong các bộ luật của Nhà nước ta . Tạo thành một khuôn khổ nhất định như trong Luật Thương mại , Luật Kinh tế. Tấc cả các cá nhân các chủ thể vi phạm hoặc làm trái những gì không cho phép hoặc không có trong bộ luật của Việt Nam sẽ hoàn toàn chịu trách nhiêm trước pháp luật Việt Nam và bị trực xuất khỏi Việt Nam.
    Ví dụ : Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập đăng ký kinh doanh phải có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật . Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh , thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật thương mại và các quy định khác của luật.
    Pháp luật là phương tiện quan trọng trong việc tạp lập môi trường ổn định đó. Bởi vì, nhờ những thuộc tính riêng của mình, pháp luật có khả năng thiết lập một trật tự mà ở đó mọi chủ thể khi tham gia vào các quan hệ phản tôn trọng những cam kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả xảy ra.
    Chính nhờ những đường lối phương châm rõ ràng và những thay đổi tích cực trong hệ thống pháp luật đã giúp Việt Nam ngày càng được bạn bè quốc tế tinh cậy và mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển thể hiện rõ qua việc Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ vói 171 quốc gia thuộc tất cả các châu lục trên thế giới. Việt Nam đảm nhiệm và là thành viên của nhiều tổ chức trên thế giới : ASEAN, WTO…
    Tóm lại, pháp luật là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập môi trường ổ định. Pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện việc xây dựng việc mở rộng , phát triển các mối quan hệ , sự hợp tác với tất cả các nước trên thế giới , không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau , trên cơ sở tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau , không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau , bình đẳng và các bên cùng có lợi ; ủng hộ và góp phần vào nhân dân thế giới vì hòa bình , độc lập, dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội.





    KẾT LUẬN
    Như vậy qua phần trình bày của nhóm chúng tôi đã khái quát được hình thức và vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa.Hi vọng điều đó sẽ cung cấp cho tất cả các bạn những kiến thức cơ bản và đầy đủ nhất về nội dung “Hình thức và vai trò của pháp luật” mà nhóm chúng tôi đã trình bày. Góp phần phục vụ cho quá trình nghiên cứu về bộ môn lý luận nhà nước và pháp luật.
    Mặc dù đã hoàn thiện một cách tốt nhất nhưng do năng lực còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Giảng viên bộ môn và các bạn sinh viên trong lớp để bài thảo luận của nhóm chúng tôi được hoàn thiện hơn.
    Xin chân thành cảm ơn.
























    TƯ LIỆU THAM KHẢO
    1. Giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật (Học viện Hành Chính Quốc Gia – NXB Giáo dục)
    2. Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – lý luận và thực tiễn của GS.TS Nguyễn Duy Quý, PGS.TS Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên).
    3. www.e-lawreview.com
    4. www.wattpat.com
    5. www.cafeluat.com
    6. www.vietlaw.biz
    7. www.thuvienphapluat.vn
    8. Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật (GS.TS Nguyễn Văn Đông)
    9. Pháp Luật Đại Cương
    10. Hiến pháp và Luật tổ chức
    11. Luật hành chính Việt Nam










    DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5

    1.Lê Thị Nguyệt
    2.Lương Thị Hoàn Nhâm
    3.Đinh Văn Nhiệt
    4.Nguyễn Thị Nhung
    5.Nguyễn Đinh Tiên Phong
    6.Đỗ Thị Thanh Phú
    7.Đinh Thị Bích Phượng
    8.Võ Lê Trường Quốc
    9.Chu Văn Quốc
    10.Lê Thị Thùy Quyên
    11. Tào Văn Quyết
    12.Trần Ngọc Quỳnh
    13.Bùi Anh Sang






    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
    Bình Định, ngày 18 tháng 02 năm 2012
    BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM

    Vào lúc: 14h00, ngày 18 tháng 02 năm 2012
    Tại phòng : 202 dãy A3 Trường Đại Học Quy Nhơn
    Nhóm 5 tổ chức thảo luận và phân công công việc với sự có mặt của 13/13 thành viên .
    Chủ trì: Nhóm trưởng Võ Lê Trường Quốc
    Thư ký: Nguyễn Thị Nhung
    Nội dung thảo luận : Tìm hiểu về hình thức và vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
    Nhóm trưởng đã phân chia công việc cho từng thành viên trong nhóm cụ thể như sau :
    Hình thức pháp luật xã hội chủ nghĩa .
    1.Võ Lê Trường Quốc
    2. Đinh Văn Nhiệt
    3.Trần Ngọc Quỳnh
    4. Nguyễn Đinh Tiên Phong
    5.Chu Văn Quốc
    6. Tào Văn Quyết

    Vai trò pháp luật xã hội chủ nghĩa .
    1. Đỗ Thị Thanh Phú
    2.Đinh Thị Bích Phượng
    3.Lê Thị Nguyệt
    4.Lương Thị Hoàn Nhâm
    5.Nguyễn Thị Nhung
    6.Lê Thị Thùy Quyên
    7.Bùi Anh Sang
    Trong quá trình thảo luật nhóm chúng tôi đã có nhiều ý kiến bàn bạc, thảo luận, tiếp cận các vấn đề một cách sâu sắc và đã có nhiều cố gắng trong tìm tư liệu bổ sung và nghiên cứu thảo luận.
    Buổi thảo luận kết thúc vào lúc 17h cùng ngày.
    Chủ trì Thư ký
    Võ Lê Trường Quốc Nguyễn Thị Nhung
    (Đã kí) ( Đã kí)









    MỤC LỤC
    Mục lục Trang
    Lời mở đầu 1
    Hình thức và pháp luật xã hội chủ nghĩa 3
    Vai trò của phát luật xã hội chủ nghĩa 10
    Kết luận 20
    Tư liệu tham khảo 22
    Danh sách thành viên 23
    Biên bản thảo luận 24
    Mục lục 26

    ---------- Post added at 09:56 PM ---------- Previous post was at 09:54 PM ----------

    minh dang hoc tai Khoa Li luan chinh tri- Hanh chinh cua dai hoc Quy nhon
    may bai dang la bai tieu luan cua cac ban.
    mong se phat trien dien dan

    ---------- Post added at 10:16 PM ---------- Previous post was at 09:56 PM ----------

    minh dang hoc tai Khoa Li luan chinh tri- Hanh chinh cua dai hoc Quy nhon
    may bai dang la bai tieu luan cua cac ban.
    mong se phat trien dien dan

Tags: