MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ NỀN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Theo lý thuyết kinh tế học phát triển, nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ là bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như: nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp, lượng hoá là một phần dân số, bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động hoặc hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khái niệm này bao hàm cả về mặt chất lượng và mặt số lượng. Số lượng nguồn nhân lực là xác định quy mô đời sống, cơ cấu tuổi, giới tính; chất lượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu công nghệ mới phục vụ nền kinh tế. Vì vậy, bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế chính là đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng cả về số lượng và chất lượng.
Trong những năm đầu hội nhập kinh tế quốc tế, những điểm mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam như lực lượng dồi dào, tỷ lệ lao động ở nhóm trẻ cao, giá nhân công rẻ, đức tính cần cù ham học hỏi đã có tác động rất tích cực đối với nền kinh tế. Việt Nam luôn được đánh giá là điểm đầu tư hấp dẫn với lợi thế về lao động, thị trường, tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự phát triển, nguồn nhân lực Việt Nam đã và đang bộc lộ những bất cập lớn ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Đó là, số lượng người bước vào độ tuổi lao động tăng quá nhanh, gây sức ép về giải quyết việc làm và ảnh hưởng trực tiếp chất lượng lao động. Hàng năm, nước ta có hơn một triệu người bổ sung vào lực lượng lao động. Lao động phân bố không đều theo ngành, vùng: giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữa thành thị và nông thôn; các vùng đồng bằng và miền núi; lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao. Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn thấp, chậm thay đổi theo hướng tăng lên. Năm 2000, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 20% tổng số lao động, năm 2005, tỷ lệ này chỉ đạt 25%. Chất lượng giáo dục và đào tạo, hiệu quả của các trường dạy nghề, đại học và trung học chuyên nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Nguồn nhân lực phân bổ theo loại hình, thành phần kinh tế với tính chất đan xen phức tạp. Năng suất lao động xã hội còn thấp, mức độ “thị trường hoá” lao động còn hạn chế; kỷ luật lao động không cao... Những bất cập đó là lực cản lớn của quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Khi hàm lượng chất xám kết tinh trong sản phẩm ngày càng cao do sự phát triển của khoa học, công nghệ, của nghiên cứu và ứng dụng, thì lao động đông đảo không còn là lợi thế để phát triển; trình độ của lao động mới là yếu tố then chốt. Việt Nam đã và đang hội nhập sâu, rộng và mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế. Để tránh sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, hơn lúc nào hết chúng ta phải đảm bảo cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Một cơ cấu lao động đồng bộ, số lượng hợp lý gắn với chất lượng cao là mục tiêu của xây dựng nguồn nhân lực Việt Nam. Trong đó, vai trò của lao động có tay nghề, lao động qua đào tạo và có chất lượng cao là quan trọng. Mục tiêu đảm bảo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn mới là: phát triển thị trường sức lao động trong mọi lĩnh vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động; “hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền, đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm”(1); xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người Việt Nam; phát triển thể trạng, nâng cao tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, đồng thời đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế hiện tại vẫn là khâu bất cập, là bài toán khó. Trong khi lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh mẽ, cơ cấu dây chuyền sản xuất không chỉ tồn tại ba bộ phận “máy phát lực, truyền lực và công tác” nữa, mà yếu tố mã hóa và giải mã thông tin đã trở thành bộ phận thứ tư; thì bài toán nhân lực lại càng thêm những dữ kiện mới, khó hơn.
Để góp phần giải bài toán này, xin đề cập một số giải pháp góp phần nâng cao khả năng đảm bảo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế hiện nay:
Thứ nhất, có chiến lược tổng thể trong phát triển thị trường sức lao động, không chỉ dựa trên những cái sẵn có của nhân lực mà trên cơ sở nền kinh tế cần.
Thị trường sức lao động và vai trò to lớn của nó được Đảng và Nhà nước rất quan tâm phát triển. Qua thị trường này, người lao động tìm được việc làm phù hợp với trình độ tay nghề của mình và khuyến khích họ không ngừng nâng cao trình độ, rèn luyện tác phong lao động mới - tác phong công nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ phát huy được những cái sẵn có của nguồn nhân lực như số lượng, đặc tính cần cù của người lao động chứ chưa đi vào đáp ứng “cầu lao động” một cách có chiều sâu của nền kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy, thông qua thị trường sức lao động, Nhà nước phải quản lý được nhu cầu lao động của xã hội, của hệ thống doanh nghiệp, có biện pháp thiết thực, đầu tư để hạn chế thất nghiệp.
Có chính sách thích hợp đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho người lao động, thúc đẩy các doanh nghiệp đào tạo và sử dụng lao động, đặc biệt là lao động nông thôn. Bên cạnh đó có biện pháp ký kết các hợp đồng liên kết đào tạo, xuất khẩu lao động sang các nước phát triển để tận thu nguồn nhân lực, hạn chế gánh nặng thất nghiệp cho đất nước. Nhà nước cũng cần có biện pháp đào tạo, tuyển chọn, sử dụng lao động trong bộ máy công quyền hợp lý, hiệu quả; đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm. Sử dụng chính sách vĩ mô, biện pháp hành chính tác động vào thị trường sức lao động, làm cho nó ngày càng phát triển và mở rộng; làm cho việc nâng cao tay nghề trở thành nhu cầu tự thân của người lao động. Từ đó, thị trường này thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới.
Thứ hai, thực hiện sự đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phải lấy chất lượng phục vụ nhu cầu của nền kinh tế làm tiêu chí thay cho “lấy thành tích đổi mới của ngành”.
Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đáp ứng quá trình đó, đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao, tay nghề tốt, có trình độ, tiếp thu và sử dụng hiệu quả những tiến bộ, thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới, góp phần đẩy mạnh quá trình nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ trong nước, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ ra những giải pháp quan trọng cho giáo dục là: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”(2). Đây là giải pháp quan trọng có ý nghĩa then chốt trong việc bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Các biện pháp chuyển sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông, đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học... đã đạt những thành tựu nhất định. Nhưng, thực trạng cho thấy, lao động được đào tạo nghề ở các nhà trường, tỷ lệ đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn rất thấp. Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần chú trọng hơn chất lượng đào tạo, được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn chứ không phải thông qua báo cáo, nguồn cung nhân lực phải thỏa mãn cầu. Khắc phục tình trạng sinh viên tốt nghiệp nhưng khi thử việc thì không được chấp nhận, vẫn trở thành thất nghiệp.
Thứ ba, các địa phương phải chủ động xây dựng nguồn nhân lực tại chỗ để bảo đảm tính bền vững cho các doanh nghiệp trên địa bàn.
Đối với mỗi quốc gia, địa phương, nguồn nhân lực luôn là hữu hạn, nếu không đảm bảo đúng mức yếu tố tái sản xuất sức lao động. Các tỉnh phát triển mạnh công nghiệp, nhất là khu vực Đông Nam bộ như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... thì nguồn lao động đa số do các tỉnh Bắc bộ và Bắc Trung bộ đáp ứng. Vì vậy, sau mỗi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều công nhân về quê không trở lại doanh nghiệp dẫn đến tình trạng khủng hoảng về lao động. Xử lý vấn đề này, các địa phương cần có chiến lược lâu dài, kết hợp với các chủ thể sản xuất, kinh doanh đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực bền vững; có chế độ đãi ngộ đúng mức để thu hút và giữ người lao động. Đồng thời, các doanh nghiệp sử dụng lao động phải gắn với trách nhiệm đào tạo và đào tạo lại nguồn lực lao động, chứ không chỉ mua sức lao động vì lợi nhuận trước mắt, khi cần thì tuyển công nhân, nhưng khi cần đào tạo lại để sử dụng thì sa thải họ và thuê người khác. Điều đó làm cho nguồn nhân lực mất cân đối trên thị trường lao động của các địa phương.
Thứ tư, bên cạnh những yêu cầu mới thì nguồn nhân lực Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như: nền văn hoá, tàn dư chế độ phong kiến, tâm lý lao động nông nghiệp, tiểu nông... Những tác động đó luôn bao gồm hai mặt tích cực và hạn chế. Mặt tích cực: người lao động thông minh, cần cù, nhanh nhẹn, đoàn kết yêu nước... là đức tính có từ lâu đời trong truyền thống dân tộc ta cần khơi dậy và phát huy. Bên cạnh đó, cần phải khắc phục những hạn chế như: tâm lý tiểu nông, làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, làm và bỏ làm một cách tùy tiện...
Các yếu tố vùng miền, dân tộc cũng ảnh hưởng, tác động tới việc bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển nền kinh tế. Vì vậy, cần có quy hoạch, dự án đầu tư phát triển phù hợp với từng địa phương, vùng, miền. Phát triển cân đối, hợp lý giữa các vùng, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo...


Ghi chú:

(1), (2) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H 2006, tr.81, tr.95.

(Theo PHẠM VĂN QUỐC – Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh