Câu hỏi: Trong việc thực hiện pháp luật ở xã hội ta, theo các anh chị cần ưu tiên áp dụng biện pháp tăng cường pháp chế nào để đảm bảo thực hiện pháp luật. Anh (chị) giải thích tại sao?

Bài tham khảo cá nhân.
Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng". Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn đổi mới trong những năm qua đã khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; nhà nước được tổ chức và vận hành một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước, tổ chức, hoạt động của nhà nước phải đặt trên cơ sở pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật; nhà nước quản lý xã hội bằng một hệ thống pháp luật vì con người; quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế an toàn và hiệu quả ngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, cần tiến hành các biện pháp tăng cường pháp chế như sau:
1/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế.
Đây là biện pháp cơ bản bao trùm, xuyên suốt trong quá trình củng cố cà tăng cường pháp chế XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng đề ra chiến lược tòan diện về công tác pháp chế. Trong từng thời kỳ Đảng đề ra những phương hướng về xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, đào tạo bồi dưỡng cán bộ pháp lý để tăng cường cho các cơ quan làm công tác pháp luật, páhp chế, tổ chức lãnh đạo phong trào quấn chúng tham gia tích cực chống vi phạm pháp luật. Đó là sự lãnh đạo tòan diện, có ý nghĩa quyết định đối với kết quả công tác pháp chế.
Tuy nhiên công tác pháp chế là vấn đề mang tính chất nhà nước, củng cố và tăng cường pháp chế là sự nghiệp tòan dân. Vì vậy Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với công tác này không có nghĩa là Đảng làm thay cho nhà nước, mà Đảng chỉ vạch ra những phương hướng chỉ đạo, kiểm tra giám sát hoạt động nhà nước trong công tác pháp chế. Để công tác pháp chế đạt hiệu quả thiết thực nhà nước phải dựa trên cơ sở những phương hướng đường lối của đảng đề ra các biện pháp cụ thể, phù hợp với những điều kiện hòan cảnh trong mỗi giai đọan cụ thể .
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế còn thực hiện thông qua sự gương mẫu của các Đảng viên và các tổ chức Đảng ở cơ sở trong việc tôn trọng cà thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước.
2. Đẩy mạnh công tác xây dựng và hòan thiện hệ thống pháp luật XHCN.
Pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường trên cơ sở của một hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và hòan thiện, kịp thời thể chế hóa các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng. phản ảnh đúng những đặc điểm của kinh tế xã hội trong một giai đoạn cụ thể. Để có một hệ thống pháp luật như vậy phải thực hiện nhiều biện pháp như: thường xuyên tiến hành hệ thống hóa pháp luật để phất hiện và lọai bỏ những quy định pháp luật trùng lặp, mâu thuẩn lạc hậu, bổ sung những thiếu sót trong hệ thống pháp luật; kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật; có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp với mỗi giai đọan cụ thể, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, kỹ thuật xây dựng pháp luật để bảo đảm cho hệ thống các văn bản pháp luật được mang tính khoa học và đạt kỹ thuật cao, mở rộng các hình thức nhân dân lao động tham gia vào việc xây dựng pháp luật.
Xây dựng hệ thống ngày càng hòan chỉnh, đồng bộ, phù hợp với tình hình của mỗi giai đọan lịch sử cụ thể là vấn đề khó khăn phức tạp. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay với những điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều biến động chưa thuần nhất thì việc xây dựng pháp luật nhà nước ta hiện nay cần tránh hai khuynh hướng; chủ quan nóng vội muốn có ngay hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để dẫn đến tình trạng pháp luật không phù hợp hợp với tình hình kinh tế xã hội, mặc khác cũng cần tránh khuynh hướng, không nhận chờ đợi, chậm chạm hoặc muốn dùng những biện pháp luật ở nước ta một mặt cần có chiến lược xây dựng pháp luật lâu dài tòan diện, mặc khác trong một giai đọan cần có trọng tâm, cần kịp thời điều chỉnh đối với sự phát triển của hệ thống các quan hệ xã hội.
3. Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật.
Đây là biện pháp lớn bao gồm nhiều mặt hoạt động, nhằm đảm bảo cho pháp luật được tân trọng và thực hiện nghiêm chỉnh cụ thể là:
- Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, tăng cường công tác giải thích pháp luật để làm sáng tỏ nội dung và các ý nghĩa của quy định pháp luật làm cơ sở cho việc tuyên truyền và pháp luật đạt kết quả.
- Đẩy nhanh công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục pháp luật nhằm làm cho nhân dân hiểu biết pháp luật, nâng cao kiến thức pháp lý tạo điều kiện để xây dựng và nêu cao ý thức pháp luật của nhân dân.
- Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ, phẩm chất chính trị và khả năng công tác để sắp xếp vào cơ quan làm công tác pháp luật pháp chế.
- Phải chú trọng công tác tổ chức, kiện toàn các cơ quan làm công tác pháp luật, pháp chế xác định rõ chức năng quyền hạn, nhiệm vụ nguyên tác hoạt động, cải tiến các phương pháp chỉ đạo và thực hiện, đồng thời tạo điều kiện vật chất cần thiết bảo đảm cho hoạt động cho cac cơ quan đó đạt kết quả cao.
- Trong từng thời kỳ cần có sự tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời để thấy rõ những thiếu sót, nhược điểm trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật, đề ra phương hướng và biệp pháp tăng cường hiệu lực công tác đó.
Các hoạt động nói trên phải tiến hành đồng bộ và phải kết hợp biện pháp kiềm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật.
4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi pham pháp luật.
Đây là biệp pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật đuợc thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Biệp pháp này đòi hỏi trước hết phải thường xuyên tổ chức việc kiểm tra hoạt động của bộ máy nhà nước và đặc biệt là hệ thống các cơ quan làm công tác bảo vệ pháp chế để phát hiện những sai sót, lệch lạch, kịp thời uốn nắng rúr kinh nghiệm bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng theo đúng nguyên tắc và yêu cầu của pháp luật. Những vi phạm pháp luật của cán bộ trong bộ máy nhà nước phải được xử lý nghiêm minh theo nguyên tác mọi người cùng bình đẳng dù bất ai dù ở cương vị nào cũng phải sống và làm việc theo pháp luật, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái luật.
Đới với các cơ quan bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa đoì hỏi phải có phương pháp hoạt động thích hợp, có hiệu quả để nhanh chóng phát hiện làm sáng tỏ các vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm minh, chính xác các quy định cuả pháp luật.
Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật chỉ có thể thực hiện tốt khi có sự chỉ đạo của Đảng, sự chủ động của các cơ quan thẩm quyền và sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân. Vì vậy phải có quan niệm đúng đắn về mối quan hệ trên, bảo đảm công tác đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật mang tính chất mạnh mẽ, cương quyết của quyền lực nhà nước vừa mang tính xã hội, đó là hệ thống kiểm tra toàn diện từ trên xuống, từ dưới lên, từ ngoài vào các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức xã hội bao gồm:
1. Sự giám sát từ trên xuống của các cơ quan có quyền lực như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.
2. Sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan thanh tra từ trung ương đến địa phương, kiểm tra, xử lý, ngăn chặn ngay bên trong các cơ quan tổ chức.
3. Sự kiểm tra trực tiếp của lãnh đạo các cơ quan tổ chức.
4. Chức năng kiểm sát từ bên ngoài.
5. Sự kiểm tra của các cơ quan xét xử, thông qua quá trình xử lý các vụ án, các tranh chấp kinh tế, dân sự, lao động … để phát hiện những khiếm khuuyết của pháp luật, tình hình vi phạm pháp luật để có kiến nghị hợp pháp cho các cơ quan thẩm quyền nghiên cứu có biệp pháp khắc phục, Đây cũng là loại hình kiểm tra từ bên ngoài của hệ thống kiểm tra tổng thể trong xã hội.
6. Sự kiểm tra xã hội của các tổ chức quần chúng (ban thanh tra nhân dân) và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật hoặc sự việc trái với lợi ích chung của xã hội.
Đây là loại hình kiểm tra từ dưới lên trong chiến lược kiểm tra và giám sát việc thực thi pháp luật trong xã hội.
Bốn biện pháp tăng cường pháp chế nêu trên nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật trong xã hội ta đều phải tiến hành đồng bộ. Tuy nhiên trong giai đoạn đất nước đang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và tiến trình hoà nhập quốc tế. Nhằm bảo đảm pháp luật nghiêm minh, theo tôi cần phải ưu tiên xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng biện pháp Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật”. Quá trình thực hiện cần tập trung vào các công việc như sau:
- Đối tượng kiểm tra, giám sát cần tập trung vào những đơn vị có vị trí trọng yếu và cán bộ Đảng viên giữ vi trí quan trọng, cơ mật ở các cấp để chú trọng ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống quan liêu, tham nhũng lãng phí, mất đoàn kết nội bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ tham mưu có đủ bản lĩnh chiến lược, có đủ bản lĩnh năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
- Nội dung kiểm tra cần tập trung vào các lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh vi phạm (lĩnh vực kinh tế, tài chính, hành chính, tư pháp, tổ chức cán bộ, quản lý sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công, trang thiết bị; lĩnh vực giải quyết khiếu nại tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chức trách nhiệm vụ được giao, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… Qua kiểm tra cần xử lý nghiêm minh, kịp thời kỷ luật về Đảng, kỷ luật hành chính, kể cả xử lý bằng pháp luật đối với tổ chức cá nhân vi phạm để củng cố lòng tin của nhân dân; kiên quyết xử lý nghiêm khắc những nơi để kéo dài, chậm xử lý và khắc phục hậu quả sai phạm.
Kết hợp chặt chẽ kiểm tra giám sát trong Đảng với thanh tra của nhà nước, thanh tra nhân dân. Phát huy mạnh mẽ vai trò trách nhiệm của cá đoàn thể chính trị xã hội, các cơ quan báo chí và quần chúng nhân dân dể làm tốt công tác kiểm tra giám sát phòng chống tham nhũng./.