THUẬT NGỮ “CÔNG SỞ”[1]
Ở Cộng hoà Pháp, ‘Công sở (Service public) là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện và người được nhà nước bổ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình”; “Công sở (Service public là tổ chức (cơ cấu) có chức năng đảm nhiệm lợi ích công”[2]; “Công sở (Établissement public) là một pháp nhân công quyền có quyền tự quyết về tài chính, nói chung là chịu trách nhiệm đảm bảo một dịch vụ công”[3]; “Công sở là một phương thức quản lý các dịch vụ công: đó là một dịch vụ công được pháp nhân hoá”[4].
Theocác nhà luật học của Cộng hoà Pháp thì thuật ngữ công sở và công sở tự quản là một khái niệm dùng để chỉ các pháp nhân công.
-“Công sở là một pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra của các cấp đó”[5].
Các tác giả nêu ra những yếu tố để nhận biết một công sở, đó là:
+ Về tổ chức: có cơ cấu tổ chức bộ máy và phân công chức năng;
+ Về chức năng: hoạt động công ích, công vụ;
+ Vật chất: có các loại tài sản, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động;
+ Pháp lý: có thể chế, quy tắc điều chỉnh hoạt động.
Còn khái niệm công sở tự quản dùng để chỉ các tổ chức hành chính nhà nước, theo tác giả Jean Michel De Forges: ‘Công sở tự quản (établissement public) là quyền tự quản về hinàh chính và tài chính”[6]. Theo khái niệm này công sở tự quản được hiểu là một tổ chức hành chính của Nhà nước (trùng với khái niệm cơ quan hành chính nhà nước) và có sự khác biệt với các tổ chức tư nhân.
Các tiêu chí dùng để nhận biết một công sở tự quản, đó là:
+ Một pháp nhân theo luật công;
+ Một tổ chức gắn liền với một đơn vị hành chính lãnh thổ. Chỉ có đơn vị hành chính lãnh thổ (dưới danh nghĩa nhà nước) tức là các cấp chính quyền mới có thẩm quyền thành lập công sở tự quản;
+ Một tổ chức chuyên môn hoá. Mỗi công sở đều gắn với một chuyên môn riêng của mình và chỉ được làm những công việc có liên quan đến chuyên môn được giao.
Ở Việt Nam , các nhà nghiên cứu cho rằng, công sở là một khái niệm thuộc phạm trù khoa học tổ chức và hành chính học.
Trong lĩnh vực tổ chức và quản lý nhà nước, thuật ngữ công sở đôi khi được xem là đồng nghĩa với trụ sở. Chẳng hạn:
-“Công sở là trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước nói chung”[7].
-“Công sở, xét về nội dung là hoạt động thoả mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần được sự bảo vệ kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nước mới đảm bảo thoả mãn nhu cầu này; xét về hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phương tiện vật chất và người được nhà nước hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình”[8].
-“Công sở là những cơ quan nhà nước hoạt động nhân danh pháp nhân công ơháp để thoả mãn các nhu cầu của nhân dân”[9].
Những cách hiểu nêu trên đã đề cập đến những dấu hiệu cơ bản của công sở. Tuy nhiên, một số khái niệm còn thiếu tính bao quát, vì trong thực tế, có nhiều cơ quan nhà nước không thực hiện chức năng quản lý nhà nước nhưng vẫn được coi là công sở (ví dụ: bệnh viện, trường học, học viện…). Ngoài ra, các giải thích đó còn chưa nêu rõ được nhưữn quan điểm khác biệt giữa khái niệm “công sở” với khái niệm “cơ quan” trong bộ máy nhà nước. Trong thực tế, giữa hai khái niệm này có điểm khác biệt như sau: khái niệm cơ quan chỉ một đơn vị trong cơ cấu thứ bậc và quyền hạn do luật định và các mối quan hệ trong công tác (ví dụ: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước nhưng không phải là một công sở). Trong khi đó, nói đến khái niệm công sở thì ngoài việc nói đến nó là một cơ quan, không thể không nói đến vị trí của nó trong không gian (địa điểm) và các điều kiện vật chất khác đảm bảo cho hoạt động của nó.
Từ các phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, từ trước đến nay, khái niệm công sở được hiểu theo các nghĩa sau:
-Theo nghĩa hẹp, công sở được hiểu là các cơ quan hành chính nhà nước, chỉ bao gồm các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
-Trong một phạm vi hẹp hơn nữa, công sở được dùng đồng nghĩa với thuật ngữ “trụ sở” chỉ một địa điểm cụ thể, một thực thể hiện hữu về kiến trúc và các phương tiện, thiết bị phục vụ cho hoạt động của mọt cơ quan nhà nước nói chung.
Tuy nhiên, khái niệm công sở hiểu theo nghĩa toàn diện phải có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Công sở chỉ gắn với nhà nước và chỉ do nhà nước thành lập và quản lý theo ý chí của nhà nước,được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật. Quy chế hoạt động của công sở tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước. Thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của từng công sở do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định;
+ Công sở là một pháp nhận cụ thể có liên quan đến hoạt động công quyền hay dịch vụ công, nói cách khác công sở có tính đặc thù gắn luền với chức năng, nhiệm vụ được phân giao theo ngành, lĩnh vực hay lãnh thổ, được nhà nước bảo đảm về mọi phương tiện để hoạt động đạt kết quả;
+ Công sở có tài sản công độc lập, sử dụng ngân sách nhà nước theo kế hoạch, có trụ sở hoặc các văn phòng đại diện trong phạm vi lãnh thổ hay ngoài lãnh thổ; được tổ chứ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc té khác;
+ Công sở có tên gọi riêng được khắc vào con dấu theo quy định, có quy chế công vụ, thực hiện đúng các bổn phận theo quy định, phải chịu trách nhiêm pháp lý trước cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền;
+ Công sở có trụ sở giao dịch đặt tại các điểm trung tâm thuận tiện cho đi lại, giao tiếp và thực hiện các mối quan hệ bên trong và bên ngoài.
Từ những điều nêu trên, có thể hiểu và sử dụng thuật ngữ công sở theo hai nghĩa như sau:
Theo nghĩa rộng:
Công sở là thuật ngữ dùng để chỉ “Một pháp nhân công quyền và là bộ phận quan trịng hợp thành bộ máy nhà nước được thành lập theo ý chí của nhà nước (có tài sản và trụ sở) nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước và phục vụ xã hội”
Theo nghĩa hẹp:
Công sở là thuật ngữ sử dụng thông thường khi nói về “Trụ sở-nơi làm việc của các cơ quan nhà nước công quyền”.

[1] Trích “Thuật ngữ Hành chính”, Viện Nghiên cứu Hành chính, Hà Nội. 2002, tr.19-20-21-22.

[2] Từ điển Praique du Francais, 1987, tr. 1023.

[3] Từ điển Petit Larousse, Nxb. Larousse, 1992, tr. 390.

[4]Giáo trình nhập môn Nền hành chính Pháp, Jean-Phillipe BROUNT và Jacque ZILLER, Học viện Hành chính Quốc tế (HAP), 1993, tr. 108, 109, 110.

[5] Luật Hành chính, Gustave Peiser, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 164.

[6] Luật Hành chính, Jean Michel De Forges, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.

[7] Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 1998.

[8] Từ điển Pháp-Việt pháp luật hành chính, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1992.

[9] Cải cách bộ máy hành chính Nhà nước Việt Nam , đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, mã số: 01-98-039, Hà Nội, 12/1995, tr. 50.